Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH, PHÂN CHIA QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN TRONG HỘ GIA ĐÌNH

 VĂN THỊ TÂM HỒNG – Tổng cục Thi hành án Dân sự

Chữ “hộ” trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có từ thời bao cấp, theo đó ruộng đất được giao theo bình quân nhân khẩu. Cụ thể là trong sổ hộ khẩu gia đình (hộ khẩu thường trú) có bao nhiêu “người từ 15 tuổi trở lên” (trang 373 Từ điển Luật học) thì được giao bao nhiêu đất căn cứ vào quỹ đất của địa phương. Nếu “chủ điền” có dư đất thì chia cho người thiếu đất theo chủ trương “nhường cơm xẻ áo”. Từ đó, người có hộ khẩu thường được hiểu là thành viên của hộ gia đình. Trong khi đó, những vấn đề liên quan đến hộ khẩu được quy định bởi Điều 25 Luật Cư trú. Tuy nhiên, trên thực tế việc quản lý hành chính vẫn dựa trên “hộ khẩu” nên phát sinh  nhiều khó khăn, bất cập trong quá trình tiến hành tố tụng cũng như trong việc xác định, phân chia quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình để thi hành án.

1. Quy định pháp luật về tài sản hộ gia đình

Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định chủ thể tham gia các quan hệ dân sự bao gồm: Cá nhân và Pháp nhân. Điều đó có nghĩa là hộ gia đình không phải chủ thể của quan hệ dân sự. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự năm 2015 vẫn ghi nhận hình thức sở hữu chung của các thành viên gia đình. Cụ thể,  Điều 212 Bộ luật dân sự quy định về sở hữu chung của các thành viên gia đình như sau:

“1. Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.

Continue reading

Advertisements

TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN TÀI SẢN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT CHÂU ÂU VÀ PHÁP LUẬT CHLB ĐỨC

THS. NGUYÊN VĂN NGHĨA – Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp (NCS. Trường Đại học Passau, CHLB Đức)

1. Quy định của pháp luật châu Âu về trách nhiệm cung cấp thông tin tài sản thi hành án

1.1 Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm cung cấp thông tin về tài sản của người phải thi hành án

Các Hướng dẫn để thực hiện tốt hơn các Kiến nghị hiện hành của Hội đồng châu Âu về Thi hành án dân sự đã được thông qua bởi Ủy ban châu Âu về tính hiệu quả của hoạt động tư pháp tại phiên họp toàn thể lần thứ 14[1] (sau đây gọi tắt là HDUBCA) đã chỉ ra rằng, sự hợp tác giữa các cơ quan nhà nước khác nhau và giữa các tổ chức tư nhân phù hợp với quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân là hết sức cần thiết để có thể tiếp cận trực tiếp và nhanh nhất các nguồn thông tin đa dạng về tài sản của bị đơn dân sự (người phải thi hành án). Pháp luật cần quy định thủ tục thống nhất để bảo đảm chắc chắn về sự hợp tác hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước với nhau và với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có liên quan đến thi hành án dân sự. Ngoài ra, để bảo đảm hiệu quả trong công tác thi hành án dân sự, Hướng dẫn này cũng yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước có lưu giữ các thông tin liên quan đến nhân thân, tài sản của người phải thi hành án phải có trách nhiệm cung cấp cho người có thẩm quyền thi hành án trong phạm vi giới hạn thời gian theo quy định và phù hợp với quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Continue reading

THỪA PHÁT LẠI – THÔNG TIN PHÁP LÝ ĐẢM BẢO

Thời gian qua, trong thi hành án dân sự, đã có những việc không xác định được hoặc còn hiểu không thống nhất về sự kiện, thời điểm người có nghĩa vụ thi hành nhận hay chưa nhận được bản án, quyết định của Tòa án; có hay không có đơn yêu cầu thi hành án… Civillawinfor trân trọng giới thiệu tham luận này để tìm hiểu thêm một trong các phương thức hạn chế bất cập nêu trên.

BERNARD MENUT – Chủ tịch Hội đồng Thừa phát lại Quốc gia Cộng Hòa Pháp

Phương thức bảo đảm an toàn thông tin cho các bên khiếu kiện

Trong buổi làm việc hôm nay, trước hết tôi sẽ trình bày với các quý vị các phương thức được áp dụng ở Pháp để bảo đảm an toàn thông tin cho các bên khiếu kiện. Trên thực tế việc bảo đảm an toàn các thông tin là rất cần thiết vì hai lý do: (i) Tôn trọng quyền được bào chữa và (ii) Tôn tọng quyền được bảo đảm an toàn thông tin. Sau đó chúng ta sẽ xem xét đến các trường hợp cụ thể về các phương thức mà chúng tôi sẽ áp dụng ở Pháp để cung cấp thông tin cho các ben đương sự.

Việc cung cấp thông tin cho các bên đương sự do Thừa phát lại đảm nhận. Chúng tôi gọi việc cung cấp thông tin này của Thừa phát lại là việc tống đạt. Đôi khi tống đạt có thể thực hiện bằng thư bảo đảm, nhưng để đạt được hiệu quả, các bên khiếu kiện cần có sự hỗ trợ của Thừa phát lại, vì thư bảo đảm cũng có nhiều bất lợi.

Trước hết, bên bị thi hành án cần phải được thông tin về quyết định của Tòa. Chính vì thế bản án của Tòa phải được trao cho đương sự sớm nhất có thể, đặc biệt trong việc xét xử vắng mặt. Việc tống đạt sớm tạo điều kiện cho người bị thi hành án có thể thực hiện được quyền kháng án của mình. Việc tống đạt nhanh chóng có thể tránh được hiện tượng bên thắng kiện có thể lợi dụng thời gian để cho bên bị thua kiện không đủ thời gian thu thập bằng chứng để kháng án. Tóm lại, người được tống đạt phải được cung cấp thông tin đầy đủ và nhanh chóng.

Continue reading

VỀ THÔNG BÁO TRÊN PHƯƠNG TIỆN THÔNG TIN ĐẠI CHÚNG VÀ THÔNG BÁO CÁC VĂN BẢN KHÁC TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

THS. ĐINH DUY BẰNG & THS. HOÀNG THỊ THANH HOA

Hoạt động thi hành án dân sự ở nước ta trong những năm vừa qua có nhiều tiến bộ vượt bậc đáng ghi nhận trong mọi mặt hoạt động, trong đó có hoạt động ban hành quy phạm pháp luật về thông báo thi hành án dân sự. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự ngày càng hoàn thiện, tạo nhiều thuận lợi cho công tác thi hành án dân sự, trong đó các quy định về thông báo thi hành án đã cụ thể, rõ ràng hơn, góp phần đảm bảo cho cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên thực hiện tốt nhiệm vụ thông báo của mình.

Thông báo trong thi hành án dân sự là việc cơ quan thi hành án dân sự gửi các “Quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án, … cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó”[1]. Luật Thi hành án dân sự đã dành 05 điều luật (từ Điều 39 đến Điều 43) quy định về vấn đề thông báo thi hành án dân sự, đồng thời Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP) và Điều 2 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC. Điều này thể hiện tầm quan trọng của công việc thông báo trong thi hành án dân sự.

Việc quy định chặt chẽ về đối tượng, trình tự, thủ tục thông báo không chỉ đảm bảo cho thông tin đến được với đương sự, người liên quan[2] mà còn có tầm quan trọng trong việc đảm bảo trình tự thủ tục thi hành án theo đúng quy định của pháp luật.

Continue reading

CHỈ THỊ SỐ 04/CT-VKSTC NGÀY 22/3/2018 CỦA VKSNDTC VỀ TĂNG CƯỜNG CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH, VỤ VIỆC DÂN SỰ

Kết quả hình ảnh cho LOGO Vien kiem sat nhan dan toi caoTrong những năm qua, công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là vụ án hành chính, vụ việc dân sự) trong ngành Kiểm sát nhân dân đạt được những kết quả tích cực, đã kịp thời phát hiện nhiều vi phạm của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự và đã ban hành nhiều kiến nghị, kháng nghị yêu cầu Tòa án khắc phục vi phạm, bảo đảm việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự của Tòa án kịp thời, đúng quy định của pháp luật.

Bên cạnh kết quả đạt được nêu trên, công tác này vẫn còn một số hạn chế, tồn tại như: Một số vi phạm của Tòa án chưa được Viện kiểm sát phát hiện để thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị; ở một số Viện kiểm sát địa phương, số lượng kháng nghị phúc thẩm có xu hướng giảm và thấp hơn nhiều so với số bản án, quyết định bị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy án, sửa án; số lượng kháng nghị giám đốc thẩm cũng giảm; chất lượng kháng nghị của một số Viện kiểm sát chưa đạt yêu cầu; số văn bản yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự còn ít; một số Viện kiểm sát trong thời gian dài không phát hiện được vi phạm của Tòa án để kháng nghị.

Để khắc phục những hạn chế, tồn tại nêu trên, nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự trước hết cần thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Luật tố tụng hành chính năm 2015, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan, bảo đảm thực hiện đúng, đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu Thủ trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân 2 cấp địa phương tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:

Continue reading

QUY CHẾ, VAI TRÒ CỦA THỪA PHÁT LẠI VÀ LUẬT SƯ TẠI THÁI LAN

TS. THANAKRIT VORATHANATCHAKUL – Công tố viên Văn phòng Trưởng Công tố, Thái Lan

1. Quy chế và vai trò của thừa phát lại tại Thái Lan

Quy chế thừa phát lại

Ở Thái Lan, thừa phát lại là công chức nhà nước. Để hành nghề thừa phát lại, ứng viên phải có văn bằng cử nhân chuyên ngành luật và phải thi đỗ kỳ thi tuyển thừa phát lại quốc gia, là một cuộc thi mà chỉ có rất ít ứng viên thành công. Ngay sau kỳ thi tuyển, các ứng viên đã thi đỗ có thể làm việc ngay như một thừa phát lại mà không cần phải trải qua một khóa đào tạo nào về nghề thừa phát lại.

Tại Thái Lan, không có Hội đồng Thừa phát lại như ở Pháp là tổ chức xã hội nghề nghiệp của thừa phát lại gồm 3 cấp : Hội đồng Thừa phát lại tỉnh, Hội đồng Thừa phát lại vùng và Hội đồng Thừa phát lại quốc gia. Tổ chức, quản lý và các hình thức kỷ luật thừa phát lại tại Thái Lan được điều chỉnh bởi Luật quy chế công chức dân sự năm 2008.

Về việc xử lý vi phạm đối với thừa phát lại, luật pháp Thái Lan quy định thừa phát lại phải chịu trách nhiệm dưới các hình như sau: trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự và trách nhiệm kỷ luật. Trách nhiệm dân sự được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự và Luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của các công chức, viên chức nhà nước năm 1996. Trách nhiệm hình sự được điều chỉnh bởi Bộ luật hình sự. Các biện pháp xử lý kỷ luật được quy định tại Luật quy chế công chức dân sự năm 2008 và Luật đạo đức công chức. Continue reading

GIAO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN CHO NGƯỜI ĐƯỢC GIAO NUÔI DƯỠNG – MỘT SỐ BẤT CẬP TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH

THS. HOÀNG THỊ THANH HOA – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Hà Nội

Giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định là một loại việc thi hành án đặc thù của các vụ án hôn nhân và gia đình. Trong bối cảnh các vụ việc ly hôn ngày càng có xu hướng gia tăng như hiện nay thì số lượng các việc thi hành án giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng mà các cơ quan thi hành án dân sự phải giải quyết ngày càng nhiều.

Đây là một loại việc thi hành án rất phức tạp do đối tượng thi hành án ở đây không phải là tiền hay tài sản mà là con người. Việc cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thường rất nhạy cảm, ảnh hưởng đến tâm lý, tình cảm của cả người được thi hành án, người phải thi hành án và đặc biệt là người chưa thành niên. Thậm chí còn có thể gặp phải sự cản trở, chống đối từ rất nhiều phía như gia đình, họ hàng, dư luận địa phương….nên rất khó khăn khi thực hiện.Biện pháp cưỡng chế thi hành án giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định được quy định tại khoản 6 Điều 71, Điều 120 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014. Tuy nhiên trong thực tiễn, việc áp dụng các quy định của pháp luật vẫn còn một số bất cập như sau:

Thứ nhất: Việc xử phạt vi phạm hành chính

Theo quy định tại khoản 2 Điều 120 Luật Thi hành án dân sự: Trường hợp người phải thi hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành niên không giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền, ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng. Continue reading

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHÍ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM VÀ LIÊN HỆ MỘT VÀI QUY ĐỊNH QUỐC TẾ CÓ LIÊN QUAN

 

THS. HOÀNG THỊ THANH HOA & THS. NGUYỄN VĂN NGHĨA

Phí thi hành án là khoản tiền mà người được thi hành án phải nộp khi nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định. Vấn đề thu phí thi hành án dân sự được quy định tại Luật Thi hành án dân sự 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, (sau đây gọi tắt là Luật THADS), Nghị định số 120/2016/NĐ-CP ngày 26/8/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phí và lệ phí (gọi tắt là Nghị định số 120/2016/NĐ-CP); Thông tư số 216/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí THADS (Thông tư số 216/2016/TT-BTC).

Trước đây vấn đề thu phí được quy định tại Thông tư liên tịch số 144/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 22/9/2010 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn về chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự (Thông tư số 144/2010/TTLT- BTC- BTP). Trong quá trình thực hiện cùng với những thay đổi của pháp luật thi hành án dân sự và các lĩnh vực pháp luật khác có liên quan, Thông tư số 144/2010/TTLT- BTC- BTP đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập nhất định. Ví dụ như việc thu phí thi hành án trong trường hợp cơ quan thi hành án đã thực hiện các thủ tục thi hành án như xác minh, thông báo và tốn nhiều công sức để vận động đương sự, nhưng sau đó các đương sự tự nguyện thi hành án cho nhau không thông qua cơ quan thi hành án dẫn đến không thu được phí; thậm chí có trường hợp cơ quan thi hành án đã tổ chức cưỡng chế xong, chuẩn bị giao tiền cho đương sự nhưng người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án (theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 của Luật Thi hành án dân sự) và họ từ bỏ nhận tiền, tài sản đã thu được. Trong trường hợp này theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 2 của Thông tư số 144/2010/TTLT- BTC- BTP, cơ quan thi hành án không thể thu phí thi hành án. Lợi dụng hạn chế của quy định này, đã có những trường hợp các bên đương sự bắt tay nhau trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án. Bên cạnh đó, về thời hạn thu phí thi hành án đối với trường hợp giao tài sản của Thông tư số 144/2010/TTLT-BTC-BTP cũng có những bất cập, theo khoản 4 Điều 3 của Thông tư trên quy định: “Nếu giao tài sản mà người được thi hành chưa nộp phí thi hành án, cơ quan thu phí có thể kê biên, phong tỏa tài sản được thi hành án và ấn định thời hạn không quá 15 ngày, kể từ ngày giao trả tài sản để người được thi hành án nộp phí thi hành án” dẫn đến nhiều trường hợp cơ quan thi hành án đã giao tài sản nhưng người được nhận tài sản không nộp phí. Ngoài ra, còn có những quy định về thủ tục xét miễn giảm phí thi hành án chưa thống nhất với các văn bản pháp luật có liên quan cần được giải quyết.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: