Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN TÀI SẢN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT CHÂU ÂU VÀ PHÁP LUẬT CHLB ĐỨC

THS. NGUYÊN VĂN NGHĨA  – Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp (NCS. Trường Đại học Passau, CHLB Đức)

1. Quy định của pháp luật châu Âu về trách nhiệm cung cấp thông tin tài sản thi hành án

1.1 Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm cung cấp thông tin về tài sản của người phải thi hành án

Các Hướng dẫn để thực hiện tốt hơn các Kiến nghị hiện hành của Hội đồng châu Âu về Thi hành án dân sự đã được thông qua bởi Ủy ban châu Âu về tính hiệu quả của hoạt động tư pháp tại phiên họp toàn thể lần thứ 14[1] (sau đây gọi tắt là HDUBCA) đã chỉ ra rằng, sự hợp tác giữa các cơ quan nhà nước khác nhau và giữa các tổ chức tư nhân phù hợp với quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân là hết sức cần thiết để có thể tiếp cận trực tiếp và nhanh nhất các nguồn thông tin đa dạng về tài sản của bị đơn dân sự (người phải thi hành án). Pháp luật cần quy định thủ tục thống nhất để bảo đảm chắc chắn về sự hợp tác hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước với nhau và với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có liên quan đến thi hành án dân sự. Ngoài ra, để bảo đảm hiệu quả trong công tác thi hành án dân sự, Hướng dẫn này cũng yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước có lưu giữ các thông tin liên quan đến nhân thân, tài sản của người phải thi hành án phải có trách nhiệm cung cấp cho người có thẩm quyền thi hành án trong phạm vi giới hạn thời gian theo quy định và phù hợp với quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Continue reading

Advertisements

CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI DÙ ĐÃ HẾT THỜI HIỆU YÊU CẦU TẠI HOA KỲ: NHÌN TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ VỤ SEETRANSPORT WIKING V. NAVIMPEX CENTRALA

LÊ NGUYỄN GIA THIỆN – Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG TP.HCM

TÓM TẮT VỤ VIỆC SEETRANSPORT WIKING V. NAVIMPEX CENTRALA

Ngày 26/1/1980, Seetransport Wiking là một công ty vận tải của Đức (Seetransport) ký một hợp đồng với Navimpex Centrala (Navimpex) (một công ty đóng tàu thuộc sở hữu nhà nước của Rumani, có văn phòng thương mại tại Mahattan, New York, Hoa Kỳ), theo đó Navimpex đồng ý đóng cho Seetransport một chiếc tàu cỡ lớn trong khoảng thời gian từ tháng 11 hoặc 12/1980 đến tháng 2 hoặc 3/1982. Tuy nhiên, do hợp đồng không được thực hiện, nên các bên đã mang nhau ra trước Tòa trọng tài quốc tế Paris thuộc Phòng thương mại quốc tế tại Paris (Tòa trọng tài ICC) căn cứ vào Điều XIII trong hợp đồng mua bán giữa hai bên.

Tòa trọng tài ICC đã ban hành hai phán quyết (phán quyết tạm thời ngày 2/11/1983 và phán quyết toàn phần ngày 26/3/1984) tuyên rằng bị đơn (Navimpex) phải trả 6 triệu Mark Đức và lãi suất 8%/năm tính từ 1/1/1981 cho nguyên đơn (Seetransport). Ngoài ra, mỗi bên chịu một nửa phí trọng tài. Seetransport đã thanh toán tất cả phí trọng tài nên Navimpex còn phải trả thêm cho Seetranstransport 36.000 USD (tương đương một nửa phí trọng tài).

Do không đồng ý với phán quyết của Tòa trọng tài ICC, bị đơn đã nộp đơn yêu cầu Tòa thượng thẩm Paris (Cour d’Appel de Paris) đề nghị hủy phán quyết này. Thế nhưng, Tòa thượng thẩm Paris đã từ chối hủy phán quyết, theo quyết định đề ngày 4/3/1986.

Continue reading

KINH NGHIỆM CỦA PHÁP VỀ HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

JEAN – MARIE COULONChánh án Toà Phúc thẩm Paris, Cộng hòa Pháp

Mục đích chính của việc hoà giải đó là khuyến khích việc giải quyết vụ việc theo thoả thuận giữa các bên trước khi tiến hành tố tụng hoặc trong quá trình tố tụng. Hoà giải trong tố tụng dân sự là một nghĩa vụ của thẩm phán cả về mặt pháp lý và về mặt đạo đức nghề nghiệp. Nghĩa vụ này được quy định trong pháp luật quốc gia (Điều 21, Bộ luật TTDS mới của Pháp) và cả trong pháp luật của Liên minh Châu Âu.

Ở Pháp, có ba phương thức thường được áp dụng để giải quyết vụ việc theo thoả thuận giữa các bên : Tự hoà giải ; hoà giải ; trung gian. Vấn đề này còn bao hàm một nội dung nữa, đó là vấn đề tiếp cận pháp luật (trợ giúp pháp lý). Vấn đề tiếp cận pháp luật lại gồm hai nội dung : Tạo điều kiện cho người dân hiểu và nắm bắt được nội dung của các quy định pháp luật ; cung cấp cho người dân những phương tiện cần thiết để thực hiện quyền của mình theo quy định của pháp luật.

1. Dàn xếp, tự hoà giải giữa các bên

Về phương thức giải quyết tranh chấp bằng dàn xếp, tự hòa giải giữa các bên, theo quy định của Đạo luật năm 1998 và Nghị định hướng dẫn thi hành, việc dàn xếp và tạo điều kiện cho các bên tự hoà giải là lĩnh vực hoạt động của luật sư. Đạo luật năm 1998 quy định một khuôn khổ pháp lý rất chặt chẽ cho việc tiến hành tự hòa giải giữa các bên mà không có sự tham gia của thẩm phán, thậm chí là trước khi đưa vụ việc ra tòa.

Continue reading

TỐ TỤNG TRANH TỤNG VÀ TỐ TỤNG XÉT HỎI

 NGÔ CƯỜNG

Trên thế giới hiện nay, hoạt động xét xử của Tòa án thường áp dụng một trong hai thủ tục là tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn (xét hỏi). Mỗi loại hình tố tụng này có những đặc điểm, nguyên tắc, trình tự riêng.

I. TỐ TỤNG TRANH TỤNG

1. Những đặc điểm căn bản trong tố tụng tranh tụng

Tố tụng tranh tụng là mô hình tố tụng ở những quốc gia theo truyền thống thông luật, như: Anh, Mỹ, Úc…Mô hình này dựa trên nguyên tắc “các bên trình bày”. Điều đó có nghĩa là, hai bên trong vụ án hình sự và dân sự sẽ quyết định phạm vi những vấn đề đưa ra cho Thẩm phán xem xét, quyết định. Thẩm phán chỉ thực hiện việc xét xử, đóng vai trò là người trọng tài trung lập xem xét các vấn đề các bên trình bày. Theo đó, hai bên trong vụ án có trách nhiệm đưa ra các nhân chứng, chứng cứ để bảo vệ cho quan điểm của họ. Thẩm phán phải bảo đảm cho hai bên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình trong việc làm sáng tỏ vụ án.

Ở những quốc gia theo truyền thống thông luật, không có các Bộ luật tố tụng do Quốc hội thông qua, mà chỉ có bộ quy tắc về tố tụng do Tòa án tối cao ban hành. Trên cơ sở quy định của bộ quy tắc này, các Tòa án cấp dưới có thể có những quy định bổ sung phù hợp với điều kiện hoạt động của Tòa án mình. Điều đó cho thấy, tố tụng tranh tụng là một mô hình tố tụng rất linh hoạt. Thông qua việc xét xử các vụ án, nếu nhận thấy Tòa án cấp dưới đi “chệch hướng” với quy định tại bộ quy tắc, Tòa án tối cao sẽ “uốn nắn” thông qua án lệ của mình.

2. Thủ tục tố tụng hình sự trong mô hình tố tụng tranh tụng

2.1. Những nguyên tắc chung Continue reading

THỪA PHÁT LẠI – THÔNG TIN PHÁP LÝ ĐẢM BẢO

Thời gian qua, trong thi hành án dân sự, đã có những việc không xác định được hoặc  còn hiểu không thống nhất về sự kiện, thời điểm người có nghĩa vụ thi hành nhận hay chưa nhận được bản án, quyết định của Tòa án; có hay không có đơn yêu cầu thi hành án… Civillawinfor trân trọng giới thiệu tham luận này để tìm hiểu thêm một trong các phương thức hạn chế bất cập nêu trên.

BERNARD MENUT – Chủ tịch Hội đồng Thừa phát lại Quốc gia Cộng Hòa Pháp

Phương thức bảo đảm an toàn thông tin cho các bên khiếu kiện

Trong buổi làm việc hôm nay, trước hết tôi sẽ trình bày với các quý vị các phương thức được áp dụng ở Pháp để bảo đảm an toàn thông tin cho các bên khiếu kiện. Trên thực tế việc bảo đảm an toàn các thông tin là rất cần thiết vì hai lý do: (i) Tôn trọng quyền được bào chữa và (ii) Tôn tọng quyền được bảo đảm an toàn thông tin. Sau đó chúng ta sẽ xem xét đến các trường hợp cụ thể về các phương thức mà chúng tôi sẽ áp dụng ở Pháp để cung cấp thông tin cho các ben đương sự.

Việc cung cấp thông tin cho các bên đương sự do Thừa phát lại đảm nhận. Chúng tôi gọi việc cung cấp thông tin này của Thừa phát lại là việc tống đạt. Đôi khi tống đạt có thể thực hiện bằng thư bảo đảm, nhưng để đạt được hiệu quả, các bên khiếu kiện cần có sự hỗ trợ của Thừa phát lại, vì thư bảo đảm cũng có nhiều bất lợi.

Trước hết, bên bị thi hành án cần phải được thông tin về quyết định của Tòa. Chính vì thế bản án của Tòa phải được trao cho đương sự sớm nhất có thể, đặc biệt trong việc xét xử vắng mặt. Việc tống đạt sớm tạo điều kiện cho người bị thi hành án có thể thực hiện được quyền kháng án của mình. Việc tống đạt nhanh chóng có thể tránh được hiện tượng bên thắng kiện có thể lợi dụng thời gian để cho bên bị thua kiện không đủ thời gian thu thập bằng chứng để kháng án. Tóm lại, người được tống đạt phải được cung cấp thông tin đầy đủ và nhanh chóng.

Continue reading

CÁC NGHỀ TƯ PHÁP TRONG CÁC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ĐƯƠNG ĐẠI

GS. JAUFFRET SPINOSI – Đại học Paris II, Cộng hòa Pháp

Trên thế giới, các nghề luật, nghề tư pháp hoặc bổ trợ tư pháp được tổ chức theo những mô hình rất đa dạng, xuất phát từ những đặc thù lịch sử, văn hóa, cách suy nghĩ của người dân cũng như hệ thống pháp luật và các nguyên tắc tố tụng của mỗi quốc gia.

Có nhiều hoạt động yêu cầu phải có một đội ngũ nhân viên giỏi nghiệp vụ. Ví dụ như trong một vụ kiện, đương sự phải có người đại diện trước Tòa, đồng thời quyền lợi của anh ta cũng phải được bảo vệ. Khi đã có bản án thì các quyết định của Tòa án phải được thi hành. Trong một thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp, tài sản của doanh nghiệp mắc nợ phải được đảm bảo an toàn cho đến khi Tòa đưa ra quyết định cuối cùng. Còn bên ngoài Tòa án, mọi người vẫn sinh sống, cưới xin, làm giàu và chết đi bình thường. Dấu vết của tất cả các sự kiện này cũng phải được thiết lập vì khi cần thiết, chúng ta phải có những bằng chứng để chứng minh và cần có những bằng chứng xác thực nhất.

Một luật gia duy nhất liệu có thể đảm nhận tất cả các công việc này không? Liệu có nên lập ra nhiều nghề khác nhau để chia xẻ những công việc này không?.

……

TRA CỨU NỘI DUNG ĐẦY ĐỦ TẠI ĐÂY

SOURCE: Tham luận Hội thảo “Vai trò của các nghề bổ trợ tư pháp trong Nhà nước pháp quyền”, Nhà Pháp luật Việt – Pháp. TP. HCM. 1999

CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG CỦA TÒA ÁN HOA KỲ

GS.TS. PAMELA S. KATZ – Đại học Sage (New York), Học giả Chương trình Fulbright tại Việt Nam năm 2012-2013; Chương trình Fulbright tại Ấn Độ năm 2016

NCS. LÊ NGUYỄN GIA THIỆN – Khoa Luật, Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG TP.HCM

Dẫn nhập:

Hệ thống tòa án có thể được xem là chế định bền vững và ít thay đổi nhất tại Hoa Kỳ. Những nhà soạn thảo Hiến pháp Hoa Kỳ đã tiên đoán được những thách thức mà nhánh quyền lực này gặp phải khi giải thích và thi hành pháp luật, đặt trong khung cảnh của một quốc gia liên bang, cũng như các bang trong tổng thể hệ thống chính quyền liên bang.

Những nhà lập hiến Hoa Kỳ đồng ý thiết lập một hệ thống tòa án lưỡng cấp, mà ở đó các tòa án liên bang, dù có thẩm quyền hạn chế, vẫn có những sự ảnh hưởng rất lớn khi các tòa này thực thi quyền tư pháp của mình. Hệ thống tự điều chỉnh theo chiều dọc của các tòa án, cũng như sự cân bằng và đối trọng giữa các nhánh quyền lực nhà nước, giúp hạn chế những sự lạm dụng quyền lực một cách tuyệt đối ở tất cả các nhánh quyền lực, bao gồm cả nhánh tư pháp.Sự cân bằng một cách hài hòa giữa tính ổn định và tính linh hoạt của hệ thống tòa án được duy trì một cách xác đáng trong nhiều thế kỷ, mặc dù trải qua không ít thách thức.Tuy nhiên, các thách thức phải đối mặt ngày nay thực sự phức tạp, đòi hỏi sự cố gắng của tất cả hệ thống nhằm khắc phục những khó khăn cũng như phát huy những thế mạnh của hệ thống tòa án Hoa Kỳ.

I. Hệ thống tòa án lưỡng cấp

Tồn tại hai hệ thống tòa án tại Hoa Kỳ, hệ thống tòa án liên bang được thiết lập bởi Hiến pháp Hoa kỳ và Đạo luật tư pháp liên bang , còn hệ thống tòa án bang được thiết lập bởi hiến pháp và luật của 50 bang khác nhau (US, 1879, Judicial Act). Theo Điều III Hiến pháp Hoa Kỳ, các tòa án liên bang là những tòa án có thẩm quyền xét xử hạn chế. Các tòa án này chỉ có thể xét xử các vụ việc:

Continue reading

QUY CHẾ, VAI TRÒ CỦA THỪA PHÁT LẠI VÀ LUẬT SƯ TẠI THÁI LAN

TS. THANAKRIT VORATHANATCHAKUL – Công tố viên Văn phòng Trưởng Công tố, Thái Lan

1. Quy chế và vai trò của thừa phát lại tại Thái Lan

Quy chế thừa phát lại

Ở Thái Lan, thừa phát lại là công chức nhà nước. Để hành nghề thừa phát lại, ứng viên phải có văn bằng cử nhân chuyên ngành luật và phải thi đỗ kỳ thi tuyển thừa phát lại quốc gia, là một cuộc thi mà chỉ có rất ít ứng viên thành công. Ngay sau kỳ thi tuyển, các ứng viên đã thi đỗ có thể làm việc ngay như một thừa phát lại mà không cần phải trải qua một khóa đào tạo nào về nghề thừa phát lại.

Tại Thái Lan, không có Hội đồng Thừa phát lại như ở Pháp là tổ chức xã hội nghề nghiệp của thừa phát lại gồm 3 cấp : Hội đồng Thừa phát lại tỉnh, Hội đồng Thừa phát lại vùng và Hội đồng Thừa phát lại quốc gia. Tổ chức, quản lý và các hình thức kỷ luật thừa phát lại tại Thái Lan được điều chỉnh bởi Luật quy chế công chức dân sự năm 2008.

Về việc xử lý vi phạm đối với thừa phát lại, luật pháp Thái Lan quy định thừa phát lại phải chịu trách nhiệm dưới các hình như sau: trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự và trách nhiệm kỷ luật. Trách nhiệm dân sự được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự và Luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của các công chức, viên chức nhà nước năm 1996. Trách nhiệm hình sự được điều chỉnh bởi Bộ luật hình sự. Các biện pháp xử lý kỷ luật được quy định tại Luật quy chế công chức dân sự năm 2008 và Luật đạo đức công chức. Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: