Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TỐI CAO CỘNG HÒA PHÁP (Luật số 94-100 ngày 5 tháng 2 năm 1994)

Luật này đã được,

Hạ viện và Thượng viện thông qua, Hội đồng Bảo hiến tuyên bố phù hợp với Hiến pháp,

và Tổng thống nước Cộng hoà Pháp công bố với nội dung như sau:

Thiên 1

CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TỐI CAO

Điều 1

Các thẩm phán thành viên Ban thẩm phán xét xử của Hội đồng thẩm phán tối cao được chỉ định theo quy định dưới đây:

1. Một thẩm phán xét xử ngoại ngạch của Toà án tư pháp tối cao do Hội đồng thẩm phán xét xử ngoại ngạch của Toà án này bầu ra;

2. Một Chánh án Toà án phúc thẩm do Hội đồng Chánh án Toà án phúc thẩm bầu ra;

3. Một Chánh án Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng do Hội đồng Chánh án Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng, Toà án sơ thẩm thẩm quyền hẹp hoặc Toà án phúc thẩm của một số tỉnh và lãnh thổ hải ngoại bầu ra;

4. Hai thẩm phán xét xử và một thẩm phán công tố được bầu theo quy định tại Điều 4.

Điều 2

Các thẩm phán thành viên Ban thẩm phán công tố của Hội đồng thẩm phán tối cao được chỉ định theo quy định dưới đây:

1. Một thẩm phán công tố ngoại ngạch của Toà án tư pháp tối cao do Hội đồng thẩm phán công tố ngoại ngạch của Toà án này bầu ra;

2. Một Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà án phúc thẩm do Hội đồng Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà án phúc thẩm bầu ra;

Continue reading

Advertisements

QUY ĐỊNH CỦA CỘNG HÒA PHÁP VỀ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

JEAN – MARIE COULON – Chánh án, Toà Phúc thẩm Pari, Cộng hòa Pháp

1. Chức năng của việc kháng cáo, kháng nghị

Có người cho rằng việc quy định quyền kháng cáo, kháng nghị vừa là một công cụ tốt đảm bảo công lý, vừa là một điều gây khó khăn cho các tòa án.

Về cá nhân tôi, với tư cách là chánh án Tòa phúc thẩm Pari, tôi cho rằng việc quy định quyền kháng cáo, kháng nghị là một công cụ tốt để đảm bảo công lý hơn là một điều gây khó khăn cho tòa án.

Thực ra, mỗi người sử dụng quyền kháng cáo, kháng nghị nhằm một mục đích khác nhau tuỳ theo lợi ích của riêng mình. Về phía các bên đương sự, có thể họ tận dụng quyền kháng cáo, kháng nghị để kéo dài thời hạn. Về phía luật sư, họ khuyên đương sự kháng cáo, khiếu nại để có thêm việc làm… Như vậy, để xem xét vấn đề này, một vấn đề hết sức quan trọng, chúng ta cần phải tính đến nhiều yếu tố, nhiều khía cạnh khác nhau.

Nhìn chung, việc quy định quyền kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại là một biện pháp bảo đảm thực hiện nền công lý, bảo đảm quyền và lợi ích của công dân trước tòa án. Công dân được quyền khiếu nại lên tòa án cấp cao hơn để phản đối lại một quyết định của tòa án. Nhưng nếu sử dụng một cách thái quá quyền này sẽ làm cho tòa án bị quá tải, và như vậy cũng sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của tòa án. Điều này thực tế đã xảy ra ở Pháp, nhất là ở cấp tòa phúc thẩm.

Để hiểu cụ thể hơn về vấn đề này, trước tiên chúng ta hãy cùng xem xét việc quy định quyền kháng cáo, kháng nghị nhằm những mục đích gì ? Quyền kháng cáo, kháng nghị được quy định tuân theo nhiều nguyên tắc pháp lý nhiều khi trái ngược nhau.

Continue reading

PHỔ BIẾN VÀ SỬ DỤNG ÁN LỆ

ISABELLE POIDEVIN – Thẩm phán, Tổng thư kí Tòa Phúc thẩm Rouen, Cộng hòa Pháp

Năm 1893, Augustin-Charles Renouard, thẩm phán tại Tòa án tư pháp tối cao đã viết như sau: “Các bản án của tòa án không thuộc quyền sở hữu của người thẩm phán đã tuyên những bản án đó, cũng không phải là tài sản của những người khởi kiện. Mọi bản án đều là tài sản của toàn dân; việc công bố công khai các bản án vừa là một bảo đảm cho người dân, vừa là cách để giáo dục người dân“.

Ngày nay, cách đánh giá trên đã được cụ thể hóa bằng một hệ thống thu thập và phổ biến các bản án (III). Hệ thống đó là kết quả của một quá trình nghiên cứu về những thách thức của chính sách phổ biến án lệ (I) và về những nguyên tắc mà chính sách này cần phải tuân thủ (I).

I. Những thách thức của việc phổ biến án lệ

Phổ biến án lệ vừa là một hoạt động dịch vụ công (1), vừa là một thách thức đối với các cơ quan tư pháp (2).

1. Một hoạt động dịch vụ công

Chính sách phổ biến án lệ của các tòa án ngạch tư pháp hoặc hành chính nhằm thực hiện một mục tiêu mang tính hiến định, đó là mục tiêu đảm bảo pháp luật phải dễ tiếp cận dễ hiểu.

Giá trị hiến định của hai khái niệm “tính dễ tiếp cận” và “tính dễ hiểu” của pháp luật đã được Hội đồng bảo hiến tái khẳng định tại Quyết định số 99-421 DC ngày 16 tháng 12 năm 1999 về đạo luật cho phép Chính phủ thông qua phần các quy định lập pháp của một số Bộ luật.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM DO LỖI VÀ TRÁCH NHIỆM KHÔNG CÓ YẾU TỐ LỖI

TERRY OLSON – Thẩm phán Tham Chính Viện, Cộng hòa Pháp

Ở Pháp, nguyên tắc về trách nhiệm bồi thường của các cơ quan nhà nước có hai đặc điểm đáng chú ý:

– Nguyên tắc này được khẳng định trong pháp luật Pháp sớm hơn nhiều so với các nước khác;

– Nguyên tắc này không xuất phát từ ý chí của nhà lập pháp, mà hình thành từ thực tiễn xét xử của tòa án.

1. Tình hình trước năm 1873

Tại một số Quốc gia Châu Âu, trách nhiệm bồi thường nhà nước chỉ được thừa nhận trong thế kỷ thứ XX chứ không sớm hơn. Ví dụ như ở Anh Quốc, phải đến năm 1947 thì trách nhiệm bồi thường nhà nước mới được quy định trong luật.

Nước Pháp đã thực hiện bước đi đó ngay từ năm 1873. Như vậy, có thể khẳng định rằng trách nhiệm bồi thường nhà nước đã được ghi nhận tương đối sớm trong hệ thống pháp luật Pháp.

Cho đến tận giai đoạn đầu của nền Đệ tam Cộng hòa (1875 – 1940), ý tưởng buộc các cơ quan nhà nước phải bồi thường những thiệt hại do hành động sai trái của họ gây ra vẫn chưa được khẳng định rõ nét. Các cơ quan nhà nước chỉ phải chịu trách nhiệm về hành động của họ trong hai trường hợp:

Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng;

Khi luật quy định rõ trường hợp cơ quan nhà nước phải bồi thường. Trong thực tế, chỉ có một trường hợp được quy định rõ trong luật, đó là trường hợp cơ quan nhà nước thực hiện các công trình công mà gây ra thiệt hại (Luật ngày 28 tháng Mưa, năm thứ VIII, lịch Cộng hòa).

Continue reading

TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN Ở CỘNG HÒA PHÁP

LUC BARBIER – Thẩm phán, Thành viên Hội đồng thẩm phán tối cao, Cộng hòa Pháp

Nước Pháp có khoảng 63 triệu dân trong đó khoảng 7.500 là thẩm phán (6.500 thẩm phán làm việc tại tòa, số còn lại làm việc tại các cơ quan trung ương của các bộ, ngành hoặc được biệt phái sang các cơ quan khác).

Ở Pháp, những người được gọi là thẩm phán bao gồm thẩm phán công tố và thẩm phán xét xử. Khác với nhiều nước khác, Pháp thiết lập một ngạch thẩm phán duy nhất. Việc đào tạo thẩm phán được tiến hành tại Trường thẩm phán quốc gia theo một chương trình chung và thẩm phán là người duy nhất có quyền quyết định sẽ trở thành thẩm phán đứng (thẩm phán công tố, vì đứng phát biểu tại phiên tòa) hoặc thẩm phán ngồi (thẩm phán xét xử, vì ngồi xét xử tại phiên tòa).

Để đảm bảo sự độc lập của cơ quan tư pháp, thẩm phán không thể được bổ nhiệm vào một vị trí mà họ không lựa chọn, trừ trường hợp bị xử lý kỷ luật theo quyết định của Hội đồng thẩm phán tối cao.

Hội đồng thẩm phán tối cao được thành lập theo Hiến pháp và có nhiệm vụ trợ giúp Tổng thống, cũng là Chủ tịch Hội đồng, trong việc bảo đảm sự độc lập của cơ quan tư pháp là nhiệm vụ mà Hiến pháp giao cho Tổng thống.

Hội đồng này là một thiết chế đặc biệt do có thành phần hỗn hợp. Hội đồng bao gồm các đại diện do các cơ quan nhà nước cao nhất chỉ định (Tổng thống, Chủ tịch Thượng viện, Chủ tịch Hạ viện, Hội đồng toàn thể Tham chính viện) và các thẩm phán (12). (giải thích thêm về ban thẩm phán xét xử và ban thẩm phán công tố của Hội đồng, mỗi ban có 10 thành viên trong đó 6 thẩm phán và 4 người khác).

Continue reading

TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN TÀI SẢN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT CHÂU ÂU VÀ PHÁP LUẬT CHLB ĐỨC

THS. NGUYÊN VĂN NGHĨA – Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp (NCS. Trường Đại học Passau, CHLB Đức)

1. Quy định của pháp luật châu Âu về trách nhiệm cung cấp thông tin tài sản thi hành án

1.1 Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm cung cấp thông tin về tài sản của người phải thi hành án

Các Hướng dẫn để thực hiện tốt hơn các Kiến nghị hiện hành của Hội đồng châu Âu về Thi hành án dân sự đã được thông qua bởi Ủy ban châu Âu về tính hiệu quả của hoạt động tư pháp tại phiên họp toàn thể lần thứ 14[1] (sau đây gọi tắt là HDUBCA) đã chỉ ra rằng, sự hợp tác giữa các cơ quan nhà nước khác nhau và giữa các tổ chức tư nhân phù hợp với quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân là hết sức cần thiết để có thể tiếp cận trực tiếp và nhanh nhất các nguồn thông tin đa dạng về tài sản của bị đơn dân sự (người phải thi hành án). Pháp luật cần quy định thủ tục thống nhất để bảo đảm chắc chắn về sự hợp tác hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước với nhau và với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có liên quan đến thi hành án dân sự. Ngoài ra, để bảo đảm hiệu quả trong công tác thi hành án dân sự, Hướng dẫn này cũng yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước có lưu giữ các thông tin liên quan đến nhân thân, tài sản của người phải thi hành án phải có trách nhiệm cung cấp cho người có thẩm quyền thi hành án trong phạm vi giới hạn thời gian theo quy định và phù hợp với quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Continue reading

CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI DÙ ĐÃ HẾT THỜI HIỆU YÊU CẦU TẠI HOA KỲ: NHÌN TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ VỤ SEETRANSPORT WIKING V. NAVIMPEX CENTRALA

LÊ NGUYỄN GIA THIỆN – Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG TP.HCM

TÓM TẮT VỤ VIỆC

Ngày 26/1/1980, Seetransport Wiking là một công ty vận tải của Đức (Seetransport) ký một hợp đồng với Navimpex Centrala (Navimpex) (một công ty đóng tàu thuộc sở hữu nhà nước của Rumani, có văn phòng thương mại tại Mahattan, New York, Hoa Kỳ), theo đó Navimpex đồng ý đóng cho Seetransport một chiếc tàu cỡ lớn trong khoảng thời gian từ tháng 11 hoặc 12/1980 đến tháng 2 hoặc 3/1982. Tuy nhiên, do hợp đồng không được thực hiện, nên các bên đã mang nhau ra trước Tòa trọng tài quốc tế Paris thuộc Phòng thương mại quốc tế tại Paris (Tòa trọng tài ICC) căn cứ vào Điều XIII trong hợp đồng mua bán giữa hai bên.

Tòa trọng tài ICC đã ban hành hai phán quyết (phán quyết tạm thời ngày 2/11/1983 và phán quyết toàn phần ngày 26/3/1984) tuyên rằng bị đơn (Navimpex) phải trả 6 triệu Mark Đức và lãi suất 8%/năm tính từ 1/1/1981 cho nguyên đơn (Seetransport). Ngoài ra, mỗi bên chịu một nửa phí trọng tài. Seetransport đã thanh toán tất cả phí trọng tài nên Navimpex còn phải trả thêm cho Seetranstransport 36.000 USD (tương đương một nửa phí trọng tài).

Do không đồng ý với phán quyết của Tòa trọng tài ICC, bị đơn đã nộp đơn yêu cầu Tòa thượng thẩm Paris (Cour d’Appel de Paris) đề nghị hủy phán quyết này. Thế nhưng, Tòa thượng thẩm Paris đã từ chối hủy phán quyết, theo quyết định đề ngày 4/3/1986.

Continue reading

KINH NGHIỆM CỦA PHÁP VỀ HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

JEAN – MARIE COULONChánh án Toà Phúc thẩm Paris, Cộng hòa Pháp

Mục đích chính của việc hoà giải đó là khuyến khích việc giải quyết vụ việc theo thoả thuận giữa các bên trước khi tiến hành tố tụng hoặc trong quá trình tố tụng. Hoà giải trong tố tụng dân sự là một nghĩa vụ của thẩm phán cả về mặt pháp lý và về mặt đạo đức nghề nghiệp. Nghĩa vụ này được quy định trong pháp luật quốc gia (Điều 21, Bộ luật TTDS mới của Pháp) và cả trong pháp luật của Liên minh Châu Âu.

Ở Pháp, có ba phương thức thường được áp dụng để giải quyết vụ việc theo thoả thuận giữa các bên : Tự hoà giải ; hoà giải ; trung gian. Vấn đề này còn bao hàm một nội dung nữa, đó là vấn đề tiếp cận pháp luật (trợ giúp pháp lý). Vấn đề tiếp cận pháp luật lại gồm hai nội dung : Tạo điều kiện cho người dân hiểu và nắm bắt được nội dung của các quy định pháp luật ; cung cấp cho người dân những phương tiện cần thiết để thực hiện quyền của mình theo quy định của pháp luật.

1. Dàn xếp, tự hoà giải giữa các bên

Về phương thức giải quyết tranh chấp bằng dàn xếp, tự hòa giải giữa các bên, theo quy định của Đạo luật năm 1998 và Nghị định hướng dẫn thi hành, việc dàn xếp và tạo điều kiện cho các bên tự hoà giải là lĩnh vực hoạt động của luật sư. Đạo luật năm 1998 quy định một khuôn khổ pháp lý rất chặt chẽ cho việc tiến hành tự hòa giải giữa các bên mà không có sự tham gia của thẩm phán, thậm chí là trước khi đưa vụ việc ra tòa.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: