Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI VÀ THI HÀNH THỎA THUẬN HÒA GIẢI THÀNH Ở CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC

NGUYỄN GIA THIỆN – Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQGTPHCM

NGUYỄN THỊ THÙY LINH – Viện Nhà nước và Pháp luật

1. Một số nội dung cơ bản của Đạo luật Hòa giải của Đức

1.1. Phạm vi điều chỉnh

Phạm vi điều chỉnh của Đạo luật Hòa giải rất rộng, hầu hết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực dân sự và thương mại (thuộc phạm vi của luật tư) đều có thể được giải quyết thông qua quy trình hòa giải[1]. Các tranh chấp được giải quyết bằng hòa giải thường bao gồm các tranh chấp dân sự phát sinh từ các quan hệ pháp luật về hôn nhân và gia đình, lao động, xây dựng, bảo hiểm, sở hữu trí tuệ, phá sản[2]… Thậm chí, cả tranh chấp về thừa kế cũng có thể được hòa giải[3]. Đối với các tranh chấp thương mại có thể hòa giải được, căn cứ vào mối quan hệ là bên trong hay bên ngoài của doanh nghiệp, các tranh chấp này được biểu hiện qua hai hình thức: Tranh chấp bên trong và tranh chấp bên ngoài. Theo đó, tranh chấp bên trong là tranh chấp giữa những thành viên, định chế của cùng một doanh nghiệp với nhau, bao gồm các dạng tranh chấp giữa những người lao động, giữa các nhóm/phòng ban, giữa người lao động và người quản lý, giữa người quản lý và hội đồng quản trị/hội đồng thành viên, giữa những người quản lý, giữa những chủ sở hữu và giữa những cổ đông với nhau[4]; tranh chấp bên ngoài là tranh chấp được hình thành giữa hai doanh nghiệp với tư cách là hai thực thể pháp lý độc lập hoặc giữa doanh nghiệp với những tổ chức/cá nhân khác. Các tranh chấp bên ngoài bao gồm tất cả tranh chấp phát sinh từ hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xây dựng… của doanh nghiệp[5].

1.2. Hòa giải viên

Khác với pháp luật nhiều nước6, pháp luật Đức không đặt ra những tiêu chuẩn về năng lực, trình độ cũng như điều kiện cần để một người có thể trở thành hòa giải viên. Theo luật Đức thì hòa giải viên đơn giản là một người độc lập và không thiên vị, đứng ra hỗ trợ các bên trong quá trình hòa giải nhưng không có thẩm quyền ban hành bất kỳ quyết định nào[7]. Định nghĩa này nêu ra hai điều kiện mà một hòa giải viên cần phải có, đó là:

Continue reading

Advertisements

CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI DÙ ĐÃ HẾT THỜI HIỆU YÊU CẦU TẠI HOA KỲ: NHÌN TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ VỤ SEETRANSPORT WIKING V. NAVIMPEX CENTRALA

LÊ NGUYỄN GIA THIỆN – Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG TP.HCM

TÓM TẮT VỤ VIỆC

Ngày 26/1/1980, Seetransport Wiking là một công ty vận tải của Đức (Seetransport) ký một hợp đồng với Navimpex Centrala (Navimpex) (một công ty đóng tàu thuộc sở hữu nhà nước của Rumani, có văn phòng thương mại tại Mahattan, New York, Hoa Kỳ), theo đó Navimpex đồng ý đóng cho Seetransport một chiếc tàu cỡ lớn trong khoảng thời gian từ tháng 11 hoặc 12/1980 đến tháng 2 hoặc 3/1982. Tuy nhiên, do hợp đồng không được thực hiện, nên các bên đã mang nhau ra trước Tòa trọng tài quốc tế Paris thuộc Phòng thương mại quốc tế tại Paris (Tòa trọng tài ICC) căn cứ vào Điều XIII trong hợp đồng mua bán giữa hai bên.

Tòa trọng tài ICC đã ban hành hai phán quyết (phán quyết tạm thời ngày 2/11/1983 và phán quyết toàn phần ngày 26/3/1984) tuyên rằng bị đơn (Navimpex) phải trả 6 triệu Mark Đức và lãi suất 8%/năm tính từ 1/1/1981 cho nguyên đơn (Seetransport). Ngoài ra, mỗi bên chịu một nửa phí trọng tài. Seetransport đã thanh toán tất cả phí trọng tài nên Navimpex còn phải trả thêm cho Seetranstransport 36.000 USD (tương đương một nửa phí trọng tài).

Do không đồng ý với phán quyết của Tòa trọng tài ICC, bị đơn đã nộp đơn yêu cầu Tòa thượng thẩm Paris (Cour d’Appel de Paris) đề nghị hủy phán quyết này. Thế nhưng, Tòa thượng thẩm Paris đã từ chối hủy phán quyết, theo quyết định đề ngày 4/3/1986.

Continue reading

TÍNH BẢO MẬT TRONG HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI

LS. CHÂU VIỆT BẮC – Phó Tổng thư ký, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), Hòa giải viên tại Tp.HCM, Luật sư Đoàn Luật sư TP.HCM

Hòa giải thương mại và Trọng tài thương mại là hai trong các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn (ngoài tòa án) theo pháp luật Việt Nam. Theo đó, các phương thức này được hình thành dựa trên sự thỏa thuận, tự nguyện và có thủ tục giải quyết tuân thủ quy định pháp luật, cụ thể là Nghị định 22/2017/NĐ-CP (NĐ22) về hòa giải thương mại và Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (LTTTM). Bên cạnh những điểm khác biệt, một trong những đặc trưng cơ bản giống nhau của hai phương thức giải này là nguyên tắc bảo mật thông tin.

Đối với trọng tài, việc bảo mật thông tin được đặt ra giữa thành phần tham gia tố tụng với các thành phần bên ngoài tố tụng, theo đó, các bên tham gia giải quyết tranh chấp và Hội đồng trọng tài không được cung cấp thông tin cho bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào khác, ngoài trừ trường hợp các bên thỏa thuận đồng ý tiết lộ thông tin hoặc phải cung cấp theo qui định pháp luật.[1]

Tuy nhiên xét trong quan hệ giữa các bên tranh chấp, Hội đồng trọng tài và Trung tâm trọng tài (trong trường hợp giải quyết tranh chấp bằng hình thức trọng tài quy chế) thì tài liệu, thông tin trong vụ tranh chấp phải được công khai, minh bạch. Điều này có thể thấy rõ qua qui định tại khoản 1, Điều 12 LTTTM: “Các bản giải trình, văn thư giao dịch và tài liệu khác của mỗi bên phải được gửi đến Trung tâm Trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài với số bản đủ để mỗi thành viên trong Hội đồng trọng tài có một bản, bên kia có một bản và một bản lưu tại Trung tâm”.

Tính bảo mật trong hòa giải

Khác với trọng tài, mặc dù NĐ 22 qui định khá tương đồng với LTTTM về tính bảo mật nhưng trong thực tiễn, tính bảo mật trong hòa giải đòi hỏi cao hơn và ở nhiều cấp độ khác nhau:

Continue reading

LUẬT MẪU VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ CHÚ GIẢI CỦA BAN THƯ KÝ ỦY BAN PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA LIÊN HỢP QUỐC

BẢN DỊCH CỦA NHÀ PHÁP LUẬT VIỆT – PHÁP

uncitral(Luật Ngày 21/06/1985, Phiên bản với các sửa đổi, bổ sung được thông qua ngày 07/7/2006)

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi áp dụng[1]

1. Luật này quy định về trọng tài thương mại[2] quốc tế. Luật này không ảnh hưởng đến bất kỳ thoả thuận đa phương hoặc song phương nào đang có hiệu lực đối với quốc gia ban hành Luật này.

2. Trừ quy định tại các Điều 8, 9, 17 H, 17 I, 17 J, 35 và 36, Luật này chỉ áp dụng khi địa điểm trọng tài là trên lãnh thổ của quốc gia ban hành Luật này.

(Điều 1-2 đã được UNCITRAL sửa đổi tại kỳ họp thứ 39 năm 2006) 3. Trọng tài được gọi là trọng tài quốc tế nếu:

a) Vào thời điểm ký kết thoả thuận trọng tài, các bên có trụ sở tại các quốc gia khác nhau; hoặc

b) Một trong những địa điểm sau đây nằm ngoài quốc gia nơi các bên có trụ sở:

i) Địa điểm trọng tài, như đã được chỉ định trong thoả thuận trọng tài hoặc xác định được theo thoả thuận này;

ii)Nơi thực hiện một phần nghĩa vụ cơ bản trong quan hệ thương mại hoặc nơi có quan hệ mật thiết nhất với đối tượng tranh chấp.

c) Các bên đã thoả thuận rõ ràng rằng đối tượng của thoả thuận trọng tài có mối liên hệ với nhiều nước.

Continue reading

PHÁN QUYẾT C-284/16 NGÀY 6 THÁNG 3 NĂM 2018 CỦA TÒA ÁN CÔNG LÝ CHÂU ÂU VỀ CÔNG NHẬN HIỆU LỰC CỦA PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI

Ngày 06/3/2018, Tòa án Công lý Châu Âu (European Court of Justice) bắt nguồn từ yêu cầu của Tòa án tối cao CHLB Đức đã ra Phán quyết C‑284/16 với nội dung khá quan trọng về công nhận hiệu lực của các phán quyết trọng tài tại các nước thành viên và có tác động đến cả phần còn lại của thế giới. Civillawinfor chia sẻ để các bạn tham khảo:


JUDGMENT OF THE COURT (Grand Chamber)

6 March 2018

(Reference for a preliminary ruling — Bilateral investment treaty concluded in 1991 between the Kingdom of the Netherlands and the Czech and Slovak Federative Republic and still applicable between the Kingdom of the Netherlands and the Slovak Republic — Provision enabling an investor from one Contracting Party to bring proceedings before an arbitral tribunal in the event of a dispute with the other Contracting Party — Compatibility with Articles 18, 267 and 344 TFEU — Concept of ‘court or tribunal’ — Autonomy of EU law)

In Case C‑284/16,

REQUEST for a preliminary ruling under Article 267 TFEU from the Bundesgerichtshof (Federal Court of Justice, Germany), made by decision of 3 March 2016, received at the Court on 23 May 2016, in the proceedings

Continue reading

PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI THEO CÔNG ƯỚC NEW YORK 1958, THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ ĐỀ XUẤT ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

LÊ NGUYỄN GIA THIỆN – NCS, Giảng viên Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM

1. Phán quyết trọng tài nước ngoài theo Công ước New York 1958 và thực tiễn áp dụng tại một số quốc gia

Khái niệm “phán quyết trọng tài nước ngoài” là khái niệm trung tâm, đóng vai trò cốt yếu cho toàn bộ quy trình công nhận và cho thi hành. Khi và chỉ khi xác định chính xác thế nào là một phán quyết trọng tài nước ngoài thì quy trình công nhận và cho thi hành mới có thể diễn ra đúng đắn. Chính vì lẽ đó, mà ngay từ những câu từ đầu tiên Công ước New York 1958 (Công ước) đã dự liệu về khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài (foreign arbitral award). Điều I(1) Công ước có nêu ra hai yếu tố để xác nhận một phán quyết trọng tài có phải là phán quyết trọng tài nước ngoài hay không, đó là yếu tố chính yếu và yếu tố thứ yếu.

1.1 Yếu tố chính yếu: phán quyết được xem là phán quyết trọng tài nước ngoài nếu phán quyết này được tuyên tại lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia nơi mà việc yêu cầu công nhận và cho thi hành phán được tiến hành. (This Convention shall apply to the recognition and enforcement of arbitral awards made in the territory of a State other than the State where the recognition and enforcement of such awards are sought).

Gọi là yếu tố chính yếu vì đây là yếu tố có tính căn bản, nền tảng mà các quốc gia thành viên khi xây dựng những quy định pháp luật nội địa của mình phải tuyệt đối tuân thủ. Có thể thấy rằng, yếu tố chính yếu để Công ước New York xem một phán quyết trọng tài nước có thể thuộc đối tượng điều chỉnh của mình hay không chính là nguyên tắc lãnh thổ (principle of territory hay territorial approach). Nói khác đi, yếu tố lãnh thổ có vai trò quyết định lên tính nước ngoài của một phán quyết trọng tài[1]. Bất kỳ phán quyết nào được tuyên tại một quốc gia khác với quốc gia của tòa án công nhận và cho thi hành đều có thể thuộc phạm vi của Công ước, nghĩa là “phán quyết trọng tài nước ngoài”, bất kể là nước nơi phán quyết trọng tài được tuyên có phải là thành viên công ước hay không[2]. Vì vậy, quốc tịch, nơi thường trú hoặc nơi cư trú, trụ sở của các bên không liên quan đến việc xác định liệu một phán quyết có phải là phán quyết trọng tài nước ngoài hay không[3]. Ví dụ, trọng tài ICC tuyên phán quyết tại Paris nhằm giải quyết tranh chấp giữa hai doanh nghiệp của Anh thì phán quyết này là phán quyết trọng tài nước ngoài[4].

Continue reading

THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI – MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

THS. HOÀNG THỊ THANH HOA

Với những ưu việt của thủ tục giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài Thương mại, ngày càng có nhiều chủ thể lựa chọn giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường Trọng tài. Theo số liệu của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam(VIAC)[1], từ năm 2010 đến năm 2016, chỉ tính riêng số lượng vụ việc tranh chấp tại VIAC là 734 việc, tăng 487 việc so với giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2009[2],  số vụ việc năm sau tăng cao hơn năm trước. Theo đó ngày càng nhiều phán quyết Trọng tài được đưa ra thi hành.

Vấn đề thi hành phán quyết của trọng tài thương mại được quy định tại Chương X (từ Điều 65 đến Điều 67) Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 (Luật TTTM năm 2010); Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo quy định tại Điều 1, khoản 1 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014(Luật THADS sửa đổi bổ sung năm 2014) và Điều 67 Luật TTTM năm 2010 thì Phán quyết trọng tài được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự và trách nhiệm thi hành phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại thuộc trách nhiệm của cơ quan THADS.

Theo báo cáo số 74/BC-BTP ngày 08/4/2016 của Bộ Tư pháp sơ kết 04 năm thi hành Luật Trọng tài thương mại năm 2010, số phán quyết trọng tài được thi hành mới đạt 60% trong tổng số đơn yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành phán quyết trọng tài. Số vụ việc phán quyết trọng tài được thi hành chưa cao do còn khó khăn trong việc xác minh tài sản của người phải thi hành tại nhiều địa phương đặc biệt khi các tổ chức cá nhân là người nước ngoài; một số phán quyết trọng tài tuyên không cụ thể, rõ ràng cũng gây vướng mắc trong quá trình thi hành án; hiện tượng bên phải thi hành lợi dụng yêu cầu hủy phán quyết trọng tài tại tòa án để có thời gian tẩu tán tài sản vẫn khá phổ biến khiến cho số vụ thi hành phán quyết trọng tài còn khiêm tốn[3] . Bên cạnh đó, các quy định pháp luật về việc thi hành phán quyết trọng tài vẫn còn có nhiều điểm bất cập, có thể kể đến một số bất cập như sau:

Continue reading

“PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI” VÀ “PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI”: Kinh nghiệm của Đức và gợi mở nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam

NCS. LÊ NGUYỄN GIA THIỆN – Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TPHCM

Dẫn nhập 

Công ước New York[1] là Điều ước quốc tế (ĐƯQT) đa phương quan trọng nhất không chỉ trong lĩnh vực trọng tài thương mại mà còn trong thương mại quốc tế nói chung[2]. Công ước này thiết lập một khung pháp lý vững chắc nhằm đảm bảo cho việc công nhận và cho thi hành (CNCTH) hiệu quả các phán quyết trọng tài nước ngoài. Sau hơn 20 năm chính thức gia nhập Công ước New York (vào ngày 28/7/1995), việc CNCTH phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam trải qua nhiều thực tiễn sinh động. Đa phần các phán quyết trọng tài nước ngoài được đảm bảo công nhận và cho thi hành đúng theo quy định Công ước New York, các Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp luật Việt Nam. Gần đây, với việc ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự 2015[3] (Bộ luật TTDS 2015), pháp luật về CNCTH phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam đã được kiện toàn và hoàn thiện tương đối triệt để. Tuy nhiên, khái niệm “phán quyết trọng tài nước ngoài” (foreign arbitral award) được hiểu không chính xác thành “phán quyết của trọng tài nước ngoài” (award of foreign arbitration) vẫn được duy trì hơn 20 năm nay, dù rằng khái niệm này mang nhiều bất cập và xa rời tinh thần của Công ước New York. Bài viết trình bày quan niệm của pháp luật cũng như thực tiễn xét xử của Đức về khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài. Trên cơ sở đó tiến hành phân tích và luận giải những bất cập của quy định pháp luật Việt Nam, đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật trọng tài Việt Nam nói chung cũng như pháp luật về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam nói riêng.

1. Phán quyết trọng tài nước ngoài theo quan niệm của pháp luật Đức

1.1. Sơ lược về trọng tài ở Đức

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: