BẠN SINH RA LÀ MỘT NGUYÊN BẢN, ĐỪNG CHẾT ĐI NHƯ MỘT BẢN SAO. (Khuyết danh)
Advertisements

TỔNG HỢP KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ QUY ĐỊNH ĐẦU TƯ

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

Báo cáo này khảo sát quy định về đầu tư của 8 quốc gia với 5 nước trong khu vực Châu Á và 3 nước thuộc các khu vực khác gồm: Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Philippines, Hoa Kỳ, Canada, Australia. Đây là các nước được phân thành 2 nhóm: (i) nhóm nước đang phát triển, có điều kiện phát triển tương đồng với Việt Nam; (ii) nhóm nước phát triển đã có hệ thống quy định về đầu tư hoàn thiện. Với 2 nhóm nước nêu trên, nghiên cứu có thể phản ánh một góc nhìn toàn diện đối với chính sách quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài trên thế giới.

Trong phạm vi Báo cáo, nhóm nghiên cứu chỉ tập trung khảo sát về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước nói trên. Các quy định riêng đối với hoạt động đầu tư trong nước và hoạt động đầu tư nước ngoài thông qua sàn giao dịch chứng khoán không được đề cập trong Báo cáo.

Nội dung Báo cáo chia làm 2 phần: Phần I là những đánh giá tổng quan về pháp luật đầu tư, phần II Báo cáo tập trung nghiên cứu quy định cụ thể của các nước được khảo sát trên cơ sở 6 tiêu chí cụ thể như sau:

(1) Nguồn luật điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài

(2) Hình thức đầu tư và loại hình doanh nghiệp

(3) Hình thức ưu đãi, hỗ trợ đầu tư

(4) Cơ quan quản lý về đầu tư

(5) Thủ tục đầu tư

(6) Một số vấn đề khác

Ngoài việc tập trung nghiên cứu pháp luật về đầu tư nước ngoài của các nước được khảo sát theo các tiêu chí nêu trên, trong phần đánh giá tổng quan, Báo cáo cũng đề cập đến chính sách đầu tư nước ngoài của một số nước khác để có được một cái nhìn bao quát về chính sách quản lý đầu tư nước ngoài trên thế giới.

Continue reading

Advertisements

BẢNG TỔNG HỢP KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ THEO PHƯƠNG THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP)

PHÁP

– Hợp đòng nhượng quyền dịch vụ công (DSP- Délégation de Service Public): Hợp đồng theo đó một pháp nhân thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật công giao việc quản lý  một dịch vụ công thuộc trách nhiệm của mình cho một đơn vị được ủy quyền thuộc Nhà nước hay  tư nhân, lợi ích của công ty được ủy quyền phụ thuộc lớn vào kết quả kinh doanh, khai thác dịch vụ được giao.

– Hợp đồng đối tác (CP-Contrat de Partenariat): Hợp đồng bao gồm việc nhà đầu tư thu xếp tài chính, xây dựng hoặc cải tạo công trình, bảo trì, bảo dưỡng, khai thác, quản lý.

– Hợp đồng tương tự khác:

+ BEA  (Bail Emphy téotique Administrative- Thỏa thuận hợp tác với các công trình hành chính):  Áp dụng cho các công trình bất động sản (trung tâm thể thao, trung tâm văn hóa, nhà ở xã hội…);

+ BEH (Bail Emphy téotique Hospitalier – Thỏa thuận hợp tác các công trình bệnh viện) bằng hợp đồng chủ yếu cho lĩnh vực y tê;

+ AOT/LOA (giấy phép sử dụng tạm thời bằng cho thuê/chọn mua) và hợp đồng cho thuê tài chính bằng hình thức hợp đồng đối với các công trình xây dựng và các trang thiết bị cho lĩnh vực giáo dục, chiếu sáng công cộng, hệ thống các công trình ngầm dưới đường giao thông…

NHẬT BẢN

– Nhà nước thanh tooán đều cho nhà đâu tư:  Hình thức PFI theo đó, vốn của tư nhân được huy động thời gian xây dựng công trình và Nhà nước thanh toán trong khoảng thời gian dài (không quá 30 năm);

– Nhượng quyền khai thác công trình, dịch vụ công: Continue reading

TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP TẠI CỘNG HÒA PHÁP

 NATHALIE CHAUVETCơ quan Lý lịch Tư pháp Quốc gia Cộng hòa Pháp

1. Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức của Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia

1.1 Lịch sử hình thành

Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia là cơ quan cấp trung ương trực thuộc Vụ Hình sự và Ân xá của Bộ Tư pháp Cộng hòa Pháp. Bộ Tư pháp Cộng hòa Pháp có 2 vụ lớn là Vụ Dân sự và Ấn tín (Luật tư) và Vụ Hình sự và Ân xá (Luật hình sự). Ngoài ra, còn có Vụ Quản lý tòa án chịu trách nhiệm quản lý các cơ quan xét xử, thẩm phán và công chức nhà nước làm việc trong các cơ quan đó, Vụ Hành chính chịu trách nhiệm quản lý các trại giam và Vụ Bảo trợ tư pháp thanh thiếu niên chịu trách nhiệm quản lý các trường hợp phạm tội là trẻ em.

Ở Pháp, trước đây lý lịch tư pháp do các tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng nơi sinh của đương sự quản lý. Sau đó Bộ Tư Pháp đã thành lập Trung tâm Lý lịch tư pháp trung ương, trực thuộc Vụ Hình sự và Ân xá. Đến năm 1966, Trung tâm này được chuyển về thành phố Nantes. Luật số 80-2 ngày 4/1/1980 (được pháp điển hóa thành các Điều từ 768 đến 781 và R.62 đến R.90 của Bộ luật Tố tụng hình sự) đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc tin học hóa cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và thành lập một trung tâm dữ liệu điện tử thống nhất về lý lịch tư pháp vẫn đặt tại Nantes thay thế cho Trung tâm Lý lịch tư pháp trung ương. Trung tâm này có tên gọi là Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia (Trung tâm) bắt đầu hoạt động từ năm 1982.

Continue reading

KỶ YẾU HỘI THẢO “DỰ THẢO LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG”, NHÀ PHÁP LUẬT VIỆT–PHÁP, THÁNG 4 NĂM 2010

 Mt s nhn xét chung v d tho Lut bo v quyn li người tiêu dùng

Ông Alexandre DAVID

Nghĩa vụ thông tin cho người tiêu dùng là một nội dung quan trọng và được đề cập ở các Điều 10, 11, 12, 13 của Dự thảo Luật. Điều 10 tập trung vào nghĩa vụ thông tin cho người tiêu dùng, các điều còn lại quy định về các hành vi thương mại không lành mạnh. Tôi cho rằng muốn bảo vệ người tiêu dùng, phải hành động trước khi có tranh chấp, thậm chí là trước khi giao kết hợp đồng để đảm bảo sự bình đẳng giữa cá nhân, tổ chức kinh doanh và người tiêu dùng trước khi hợp đồng được ký kết, đồng thời ngăn cản và xử lý các phương thức bán hàng gây ảnh hưởng xấu không những đến người tiêu dùng mà đến toàn bộ những đối thủ cạnh tranh khác. Ở Pháp, các hành vi này có thể bị xử lý bằng các biện pháp dân sự (hủy hợp đồng) hay hình sự (đối với hành vi của cá nhân, tổ chức kinh doanh lợi dụng khách hàng).

Trước hết, tôi xin đề cập đến việc bảo vệ người tiêu dùng thông qua nghĩa vụ cung cấp thông tin. Ở Pháp, quy định này đã tồn tại từ thời La Mã, và đến thời Trung Cổ, đã có nhiều nguyên tắc được thiết lập giữa thương nhân và người mua hàng, theo đó người bán có nghĩa vụ nêu rõ các điều kiện của hợp đồng. Nếu hợp đồng không rõ ràng thì điều khoản không rõ ràng phải được giải thích theo hướng có lợi cho người mua. Nội dung này cũng đã được đưa vào Bộ luật Dân sự của Pháp năm 1804. Nhà lập pháp của Pháp đã sớm ban hành nhiều quy định để bảo vệ quyền lợi các bên trong giao kết hợp đồng, chẳng hạn đối với hợp đồng mua bán sản nghiệp thương mại, đã có nhiều văn bản luật quy định những các điều khoản cần nêu rõ trong hợp đồng.

Continue reading

NGUYÊN TẮC VIẾT HOA TRONG CÁC VĂN BẢN HÀNH CHÍNH VÀ BẢN SAO VĂN BẢN

TỪ 05/3/2020, NGHỊ ĐỊNH SỐ 30/2020/NĐ-CP VỀ CÔNG TÁC VĂN THƯ BẮT BUỘC VIẾT HOA TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP SAU:

(Áp dụng văn bản hành chính và bản sao văn bản áp dụng đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế và đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân).

STT

Nội dung

Ví dụ

I VIẾT HOA VÌ PHÉP ĐẶT CÂU

1

Viết hoa chữ cái đầu âm tiết thứ nhất của một câu hoàn chỉnh: Sau dấu chấm câu (.); sau dấu chấm hỏi (?); sau dấu chấm than (!) và khi xuống dòng.

(Trước đây theo Thông tư 01/2011/TT-BNV thì phải viết hoa cả trong trường hợp sau dấu chấm lửng (…); sau dấu hai chấm (:); sau dấu hai chấm trong ngoặc kép (: “…”) và Viết hoa chữ cái đầu âm tiết thứ nhất của mệnh đề sau dấu chấm phẩy (;) và dấu phẩu (,) khi xuống dòng).

. Thư viện

? Pháp luật

II

VIẾT HOA DANH TỪ RIÊNG CHỈ TÊN NGƯỜI

1

Tên người Việt Nam

Tên thông thường: Viết hoa chữ cái đầu tất cả các âm tiết của danh từ riêng chỉ tên người.

Nguyễn Ái Quốc

Tên hiệu, tên gọi nhân vật lịch sử: Viết hoa chữ cái đầu tất cả các âm tiết.

Bác Hồ, Vua Hùng

2

Tên người nước ngoài được phiên chuyển sang tiếng Việt

Trường hợp phiên âm qua âm Hán – Việt: Viết theo quy tắc viết tên người Việt Nam.

Thành Cát Tư Hãn

Trường hợp phiên âm không qua âm Hán – Việt (phiên âm trực tiếp sát cách đọc của nguyên ngữ): Viết hoa chữ cái đầu âm tiết thứ nhất trong mỗi thành tố.

Vla-đi-mia I-lích Lê-nin

III

VIẾT HOA TÊN ĐỊA LÝ

1

Tên địa lý Việt Nam

Tên đơn vị hành chính được cấu tạo giữa danh từ chung (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; xã, phường, thị trấn) với tên riêng của đơn vị hành chính đó: Viết hoa chữ cái đầu của các âm tiết tạo thành tên riêng và không dùng gạch nối.

thành phố Thái Nguyên

Trường hợp tên đơn vị hành chính được cấu tạo giữa danh từ chung kết hợp với chữ số, tên người, tên sự kiện lịch sử: Viết hoa cả danh từ chung chỉ đơn vị hành chính đó.

Quận 1, Phường Điện Biên Phủ

Trường hợp viết hoa đặc biệt

Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh

(Trước đây chỉ có Thủ đô Hà Nội là thuộc trường hợp đặc biệt).

Tên địa lý được cấu tạo giữa danh từ chung chỉ địa hình (sông, núi, hồ, biển, cửa, bến, cầu, vũng, lạch, vàm v.v…) với danh từ riêng (có một âm tiết) trở thành tên riêng của địa danh đó: Viết hoa tất cả các chữ cái tạo nên địa danh.

Trường hợp danh từ chung chỉ địa hình đi liền với danh từ riêng: Không viết hoa danh từ chung mà chỉ viết hoa danh từ riêng.

Cửa Lò

biển Cửa Lò

Tên địa lý chỉ một vùng, miền, khu vực nhất định được cấu tạo bằng từ chỉ phương hướng kết hợp với từ chỉ phương thức khác: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết tạo thành tên gọi. Đối với tên địa lý chỉ vùng miền riêng được cấu tạo bằng từ chỉ phương hướng kết hợp với danh từ chỉ địa hình thì phải viết hoa các chữ cái đầu mỗi âm tiết.

Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Bộ

2

Tên địa lý nước ngoài được phiên chuyển sang tiếng Việt

Tên địa lý đã được phiên âm sang âm Hán Việt: Viết theo quy tắc viết hoa tên địa lý Việt Nam.

Hàn Quốc

Tên địa lý phiên âm không qua âm Hán Việt (phiên âm trực tiếp sát cách đọc của nguyên ngữ): Viết hoa theo quy tắc viết hoa tên người nước ngoài

Mát-xcơ-va

IV

VIẾT HOA TÊN CƠ QUAN, TỔ CHỨC

1

Tên cơ quan, tổ chức của Việt Nam

Viết hoa chữ cái đầu của các từ, cụm từ chỉ loại hình cơ quan, tổ chức; chức năng, lĩnh vực hoạt động của cơ quan, tổ chức.

Văn phòng Quốc hội

Bộ Xây dựng

Trường hợp viết hoa đặc biệt:

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam;

Văn phòng Trung ương Đảng.

2

Tên cơ quan, tổ chức nước ngoài

Tên cơ quan, tổ chức nước ngoài đã dịch nghĩa: Viết hoa theo quy tắc viết tên cơ quan, tổ chức của Việt Nam.

Liên hợp quốc (UN)

Tổ chức Y tế thế giới (WHO)

Tên cơ quan, tổ chức nước ngoài được sử dụng trong văn bản ở dạng viết tắt: Viết bằng chữ in hoa như nguyên ngữ hoặc chuyển tự La – tinh nếu nguyên ngữ không thuộc hệ La-tinh.

WTO

UNESCO

V

VIẾT HOA CÁC TRƯỜNG HỢP KHÁC

1

Danh từ thuộc trường hợp đặc biệt.

(Trước đây không có quy định này)

Nhân dân, Nhà nước

2

Tên các huân chương, huy chương, các danh hiệu vinh dự: Viết hoa chữ cái đầu của các âm tiết của các thành tố tạo thành tên riêng và các từ chỉ thứ, hạng.

Huân chương Sao vàng, Nghệ sĩ Nhân dân

3

Tên chức vụ, học vị, danh hiệu: Viết hoa tên chức vụ, học vị nếu đi liền với tên người cụ thể.

Giáo sư Tôn Thất Tùng

4

Danh từ chung đã riêng hóa: Viết hoa chữ cái đầu của từ, cụm từ chỉ tên gọi đó trong trường hợp dùng trong một nhân xưng, đứng độc lập và thể hiện sự trân trọng.

Đảng (chỉ Đảng Cộng sản Việt Nam)

Bác, Người (chỉ Chủ tịch Hồ Chí Minh)…

5

Tên các ngày lễ, ngày kỷ niệm: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết tạo thành tên gọi ngày lễ, ngày kỷ niệm.

ngày Quốc khánh 2-9

6

Tên các sự kiện lịch sử và các triều đại: Viết hoa chữ cái đầu của các âm tiết tạo thành sự kiện và tên sự kiện, trong trường hợp có các con số chỉ mốc thời gian thì ghi bằng chữ và viết hoa chữ đó. Ví dụ: Triều Lý, Triều

Phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh

Triều Lý, Triều Trần,…

7

Tên các loại văn bản

Viết hoa chữ cái đầu của tên loại văn bản và chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất tạo thành tên gọi của văn bản trong trường hợp nói đến một văn bản cụ thể. Ví dụ: Bộ luật Hình sự, Luật Tổ chức Quốc hội,…

Bộ luật Dân sự

Luật Tổ chức Quốc hội…

Trường hợp viện dẫn phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của một văn bản cụ thể thì viết hoa chữ cái đầu của phần, chương, mục, tiểu mục, điều.

(Trước đây: Trường hợp viện dẫn các điều, khoản, điểm của một văn bản cụ thể thì viết hoa chữ cái đầu của điều, khoản, điểm. Có nghĩa hiện tại viện dẫn “điểm, khoản” thì không viết hoa chữ cái đầu nữa).

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 103 Mục 5 Chương XII Phần I của Bộ luật Hình sự.

(Trước đây: Điểm a Khoản 2 Điều 103 Mục 5 Chương XII Phần I của Bộ luật Hình sự).

8

Tên các tác phẩm, sách báo, tạp chí: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất tạo thành tên tác phẩm, sách báo

từ điển Bách khoa toàn thư

9

Tên các năm âm lịch, ngày tết, ngày và tháng trong năm (Bỏ “ngày tiết”)

Tên các năm âm lịch: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết tạo thành tên gọi.

Mậu Tuất

Tân Hợi…

Tên các ngày tết: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất tạo thành tên gọi. Viết hoa chữ Tết trong trường hợp thay cho tết Nguyên đán.

tết Đoan ngọ

Tên các ngày trong tuần và tháng trong năm: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết chỉ ngày và tháng trong trường hợp không dùng chữ số.

thứ Hai

Continue reading

BẮT GIỮ TÀU BIỂN THEO PHÁP LUẬT CỘNG HÒA PHÁP

YVES TASSEL – Giáo sư luật học, Trường Đại học Nantes

ABEL PANSARD – Thừa phát lại

Tôi xin các bạn lưu ý là trong lĩnh vực pháp luật cũng như trong tất cả các lĩnh vực khác của đời sống, chúng ta phải hình dung ra được hai thái cực của chúng. Ở đây, một thái cực có liên quan đến khía cạnh kỹ thuật của pháp luật, còn thái cực kia liên quan đến các ý tưởng chủ quan của con người, ở mức độ nào đó, đó là những ý tưởng, những quan niệm về văn hoá, về chính trị. Cả hai thái cực này đều rất quan trọng, có thể chi phối các lĩnh vực của pháp luật, kể cả trong lĩnh vực luật hàng hải. Khi đi sâu nghiên cứu về pháp luật, ta có thể thấy đây là một lĩnh vực hết sức rộng lớn, có thể chia thành nhiều ngành luật khác nhau.

Về mặt truyền thống pháp lý, chúng tôi phân biệt rất rõ ràng một bên là các quan hệ giữa các cá nhân với nhau và một bên là các quan hệ giữa cá nhân với Nhà nước và với các chủ thể của Nhà nước. Dựa vào đó, chúng tôi phân ra làm hai ngành luật chủ yếu là ngành tư pháp và ngành công pháp. Tuy nhiên, khi đi sâu hơn vào ngành tư pháp, chúng ta còn thấy rất nhiều mối quan hệ khác nhau giữa các cá nhân. Như vậy, ngành luật tư pháp còn có thể được chia thành rất nhiều ngành luật nhỏ nữa, ví dụ như luật hôn nhân gia đình, luật thương mại hay luật tư pháp quốc tế. Và đôi khi, ở Pháp người ta còn nói đến luật hàng hải. Tuy nhiên, luật hàng hải là một ngành luật rất đặc biệt vì nó điều chỉnh các vật và các sự kiện có liên quan đến biển, mà biển là một không gian trên đó không phải lúc nào cũng có quyền tài phán của các quốc gia. Trong khi đó, chủ quyền của một quốc gia trên phần lãnh thổ (đất liền) là tuyệt đối. Do đó, tất cả các quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động trên lãnh thổ đều xuất phát từ những cơ quan lập pháp của quốc gia đó. Nhưng, những quy phạm pháp luật liên quan đén biển và các phương tiện đi lại trên biển chủ yếu thuộc lĩnh vực luật pháp quốc tế. Đó cũng chính là đặc thù của pháp luật hàng hải: Có liên quan đến biển và các phương tiện giao thông, các sự kiện xảy ra trên biển. Chúng ta có thể nhận thấy điều này thông qua pháp luật về bắt giữ tàu biển.

Continue reading

THÀNH LẬP VÀ TỔ CHỨC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THEO PHÁP LUẬT CỘNG HÒA PHÁP

BẢN DỊCH CỦA NHÀ PHÁP LUẬT VIỆT – PHÁP 

1. Trong nửa đầu thế kỷ XIX, nhiều học giả đã có tư tưởng cho rằng để đảm bảo và phát huy tính liên tục của lợi ích công trước những biến đổi khó lường của các hoạt động tư nhân thì cách tốt nhất là sử dụng đến doanh nghiệp nhà nước. Tuỳ vào mục đích thành lập, doanh nghiệp nhà nước có thể được tổ chức dưới các hình thức khác nhau.

Vào thời kỳ đó, phạm vi hoạt động của Nhà nước chỉ giới hạn ở bốn lĩnh vực truyền thống là quốc phòng, tư pháp, tài chính tiền tệ và đối ngoại. Dưới chế độ Nhà nước-cảnh sát, đại đa số các dịch vụ công đều được tư nhân hoá. Ngân hàng quốc gia Pháp khi được thành lập vào năm 1800 có quy chế là một đơn vị kinh tế tư nhân, các công trình lớn của Nhà nước cũng đều được giao cho tư nhân thực hiện.

Chiến tranh thế giới thứ nhất đặt dấu chấm hết cho một giai đoạn lịch sử kéo dài của chủ nghĩa kinh tế tự do. Lạm phát gia tăng làm phá sản tầng lớp người sống nhờ lợi tức, thể hiện sự yếu thế của hoạt động kinh tế tư nhân và làm giảm tính năng động của khu vực tư nhân. Trong bối cảnh đó đã xuất hiện một học thuyết mới bắt nguồn từ tư tưởng chủ nghĩa Mác, nhìn nhận thặng dư tư bản là kết quả bóc lột của giới chủ đối với người lao động và do đó cần lấy Nhà nước để thay thế cho giới chủ.

2. Trong thực tế, khu vực doanh nghiệp nhà nước đã mở rộng và phát triển qua ba giai đoạn kế tiếp nhau:

– Sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1919), Nhà nước thành lập mới nhiều doanh nghiệp nhà nước (chủ yếu là các công ty khai thác cảng độc lập) và các công ty công tư hợp doanh (Công ty khai thác dầu khí Pháp, Công ty hàng không Pháp Air France v.v…). Khi Mặt trận dân tộc lên nắm quyền (1935) thì những vụ quốc hữu hoá đầu tiên bắt đầu được tiến hành (đường sắt, quân dụng).

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 43/BC-TANDTC NGÀY 26/2/2015 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ TỔNG KẾT THỰC TIỄN 10 NĂM THI HÀNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

Thực hiện Nghị quyết số 70/2014/QH13 ngày 30-5-2014 của Quốc hội điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII, năm 2014 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015; theo sự phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao được giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng Dự án Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi) (Dự án BLTTDS (sửa đổi)).

Tòa án nhân dân tối cao đã tiến hành rà soát thực tiễn, tổ chức lấy ý kiến của các Tòa án nhân dân và các bộ, ngành liên quan, xây dựng Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Bộ luật tố tụng dân sự.

I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THI HÀNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1. Công tác triển khai thi hành Bộ luật tố tụng dân sự

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền, lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng, ban hành 05 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và 06 Thông tư liên tịch hướng dẫn các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004. Đồng thời, sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29-3-2011, lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng, ban hành 05 nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và 04 Thông tư liên tịch hướng dẫn các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.[1] Ngoài ra, Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân tối cao và Viện khoa học xét xử đã ban hành nhiều công văn trao đổi nghiệp vụ và hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cho Tòa án nhân dân các cấp. Các văn bản trên đã được ban hành kịp thời, đóng vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa Bộ luật tố tụng dân sự, hướng dẫn áp dụng thống nhất Bộ luật tố tụng dân sự trên phạm vi toàn quốc.

Continue reading

HỌC LUẬT ĐỂ BIẾT LUẬT, HIỂU LUẬT, VẬN DỤNG LUẬT VÀ HOÀN THIỆN LUẬT
%d bloggers like this: