Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

BÁO CÁO SỐ 43/BC-TANDTC NGÀY 26/2/2015 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ TỔNG KẾT THỰC TIỄN 10 NĂM THI HÀNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

Thực hiện Nghị quyết số 70/2014/QH13 ngày 30-5-2014 của Quốc hội điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII, năm 2014 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015; theo sự phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao được giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng Dự án Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi) (Dự án BLTTDS (sửa đổi)).

Tòa án nhân dân tối cao đã tiến hành rà soát thực tiễn, tổ chức lấy ý kiến của các Tòa án nhân dân và các bộ, ngành liên quan, xây dựng Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Bộ luật tố tụng dân sự.

I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THI HÀNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1. Công tác triển khai thi hành Bộ luật tố tụng dân sự

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền, lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng, ban hành 05 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và 06 Thông tư liên tịch hướng dẫn các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004. Đồng thời, sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29-3-2011, lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng, ban hành 05 nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và 04 Thông tư liên tịch hướng dẫn các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.[1] Ngoài ra, Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân tối cao và Viện khoa học xét xử đã ban hành nhiều công văn trao đổi nghiệp vụ và hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cho Tòa án nhân dân các cấp. Các văn bản trên đã được ban hành kịp thời, đóng vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa Bộ luật tố tụng dân sự, hướng dẫn áp dụng thống nhất Bộ luật tố tụng dân sự trên phạm vi toàn quốc.

Continue reading

Advertisements

DIỄN ÁN VỤ ÁN LAO ĐỘNG VỀ SA THẢI NGƯỜI LAO ĐỘNG

 CÁC THUYẾT TRÌNH VIÊN:

– THẨM PHÁN JEAN-PIERRE FEYDEAU, Chánh Toà lao động, Toà phúc thẩm Paris.

LUẬT SƯ RIBADEAU-DUMAS, Đoàn luật sư Paris, thành viên Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư.

– LUẬT SƯ JEAN-NOEL BEAULIEU, Đoàn luật sư Nanterre, chuyên về luật lao động.

A. DIỄN ÁN SA THẢI NGƯỜI LAO ĐỘNG VÌ LÝ DO CÁ NHÂN

Các quy định cơ bn v t tụng lao đng, mt ngành lut phát trin rt nhanh và có rt nhiu tranh chp lao đng xy ra Pháp.

Ông FEYDEAU:

Trong hệ thống pháp luật Pháp, Toà lao động là một Toà án hết sức đặc biệt nếu so sánh với các Toà án khác như Toà dân sự vì Toà dân sự là Toà án có thẩm quyền xét xử chung.

Toà lao động của Toà phúc thẩm xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định của Toà lao động sơ thẩm, còn gọi là Hội đồng hoà giải lao động. Toà lao động sơ thẩm có thành phần rất đặc biệt vì không có các thẩm phán chuyên nghiệp. Các thẩm phán của Toà lao động sơ thẩm là những thẩm phán do người sử dụng lao động hoặc người làm công ăn lương bầu ra. Cứ 5 năm một lần, việc bầu thẩm phán cho Toà lao động sơ thẩm lại được tổ chức, việc làm này có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là đối với công đoàn và người làm công ăn lương. Công đoàn và người làm công ăn lương giới thiệu các ứng cử viên và qua đó, có thể xác định được mức độ đại diện của mình tại Toà lao động. Continue reading

QUY CHẾ CHUNG CỦA ASEAN VỀ THẨM ĐỊNH NỘI DUNG ĐƠN ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU

Các tiêu chuẩn trong Quy chế chung này chỉ là nguồn tham khảo để hướng dẫn và làm rõ các thủ tục của các Cơ quan SHTT ASEAN nhằm mục đích hài hòa các điều kiện và tiêu chuẩn chung trong ngắn hạn. Tại thời điểm Quy chế chung này được thông qua, chỉ một số ít nguyên tắc và tiêu chuẩn không được áp dụng tại một số Cơ quan SHTT ASEAN hoặc khác biệt so với thủ tục ở những Cơ quan SHTT khác. Một số nguyên tắc hoặc tiêu chuẩn trong Quy chế chung này sẽ không được áp dụng tại một quốc gia khi mà luật nhãn hiệu của quốc gia đó không quy định, chẳng hạn, nếu một luật nhãn hiệu cụ thể không cho phép đăng ký một số dấu hiệu là nhãn hiệu. Khi có những khác biệt như vậy, Cơ quan SHTT đó sẽ không áp dụng các nguyên tắc hoặc tiêu chuẩn liên quan cho đến khi các nguyên tắc hoặc tiêu chuẩn này tương thích với luật quốc gia của mình.

Quy chế chung này không quyết định kết quả thẩm định nội dung đơn nhãn hiệu. Cơ quan SHTT vẫn giữ mọi quyền hạn và trách nhiệm được giao cho mình theo luật pháp quốc gia có liên quan.  Quy chế chung được hiểu rằng bao gồm các nguyên tắc và tiêu chuẩn có thể được áp dụng không phụ thuộc vào cách thức mà từng Cơ quan tiến hành quy trình thẩm định của mình. Quy chế chung không được dùng làm cơ sở pháp lý của bất kỳ bên nào trong việc khiếu nại kết luận của bất kỳ quyết định của Cơ quan SHTT quốc gia hoặc cơ quan tư pháp nào.

Continue reading

MỘT SỐ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ BẢO HIỂM BẮT BUỘC TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI

 CỤC QUẢN LÝ, GIÁM SÁT BẢO HIỂMBỘ TÀI CHÍNH

I. Kinh nghiệm của Nhật Bản

1. Quá trình phát triển của chế độ bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới (CALI) tại Nhật Bản

– Vào cuối những năm 1940, ngành công nghiệp ô tô của Nhật Bản phát triển nhanh chóng. Số lượng xe ô tô tăng từ 140.000 (năm 1945) lên 1,5 triệu (năm 1955). Theo là sự gia tăng về tai nạn giao thông; số vụ tai nạn giao thông tăng từ 12.000 vụ (năm 1945) lên hơn 80.000 vụ (năm 1995).

– Tuy nhiên, tại thời điểm đó không có quy định pháp luật cụ thể liên quan đến bồi thường tai nạn giao thông, dẫn đến 2 vấn đề: (i) một là nạn nhân gặp khó khăn trong việc thu thập các tài liệu chứng minh tổn thất của họ; (ii) người gây tai nạn khó có đủ tài chính để bồi thường cho những vụ tổn thất lớn. Trên cơ sở như vậy, năm 1955, Luật Bảo đảm trách nhiệm dân sự xe cơ giới ra đời nhằm quy định về trách nhiệm bồi thường và cơ chế bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới (CALI) nhằm đảm bảo bù đắp kịp thời cho các nạn nhân tai nạn giao thông.

2. Các nội dung chính của chế độ CALI

2.1. Khuôn khổ pháp luật

– Chế độ bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới – CALI chịu sự điều chỉnh của các quy định liên quan đến bồi thường trách nhiệm dân sự tại Bộ Luật dân sự và các quy định của Luật Bảo đảm trách nhiệm dân sự xe cơ giới (Luật về CALI). Trong đó, theo quy định tại Luật Bảo đảm trách nhiệm dân sự xe cơ giới:

Continue reading

LUẬT CỦA CỘNG HÒA PHÁP VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ TRONG KHU VỰC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

LUẬT SỐ 83-675 NGÀY 26 THÁNG 7 NĂM 1984 

Thiên I

Phạm vi, đối tượng áp dụng

Điều 1

Luật này điều chỉnh các loại doanh nghiệp sau đây:

1. Các đơn vị phi hành chính của Nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh, không kể các đơn vị mà trong đó cán bộ, nhân viên chịu sự điều chỉnh của luật công; các đơn vị phi hành chính khác của Nhà nước có chức năng hoạt động dịch vụ công vừa mang tính hành chính, vừa mang tính công nghiệp và thương mại nếu có đa số nhân viên chịu sự điều chỉnh của luật tư.

2. Các công ty được quy định tại phụ lục I của luật này.

3. Doanh nghiệp hình thành từ quốc hữu hoá, công ty hình thành từ quốc hữu hoá, công ty công tư hợp doanh hay công ty cổ phần trong đó Nhà nước trực tiếp nắm giữ trên 50% vốn điều lệ và các công ty bảo hiểm kinh doanh[1] hình thành từ quốc hữu hoá.

4. Công ty cổ phần trong đó trên 50% vốn điều lệ do một đơn vị phi hành chính nhà nước hoặc một công ty theo quy định tại điều này đang trực tiếp hoặc gián tiếp nắm giữ được trên 6 tháng tính đến thời điểm luật này có hiệu lực, với điều kiện là công ty cổ phần đó phải sử dụng trung bình 200 lao động trong khoảng thời gian 24 tháng gần đây nhất.

5. Các công ty cổ phần khác có trên 50% vốn điều lệ do Nhà nước kết hợp với các đơn vị phi hành chính của Nhà nước hoặc các công ty theo quy định tại điều này đang trực tiếp hoặc gián tiếp nắm giữ được trên 6 tháng tính đến thời điểm luật này có hiệu lực, với điều kiện là công ty cổ phần đó phải sử dụng trung bình 200 lao động trong khoảng thời gian 24 tháng gần đây nhất.

Continue reading

PHÁP ĐIỂN HÓA

BERNARD PIGNEROL Thẩm phán, Tham chính viện Cộng hòa Pháp

Gérard Cornu đã định nghĩa: pháp điển hóa là “việc tập hợp và sắp xếp lại một cách có hệ thống tất cả các qui định pháp luật về một lĩnh vực, một ngành thành một bộ pháp điển và theo nghĩa rộng là kết quả của hoạt động đó“[1]. Nghĩa ban đầu của thuật ngữ “pháp điển hóa” là hoạt động hay nghệ thuật[2] xây dựng một bộ luật (codicem facere trong tiếng La tinh). Thật khó có thể tách biệt rõ ràng giữa quá trình pháp điển hóa và kết quả của quá trình đó, tức nghĩa là tách biệt cái gì thuộc về Bộ luật và cái gì thuộc về quá trình pháp điển hóa. Khó khăn này xuất phát từ bản chất của bộ luật[3]- đây là kết quả của một hệ thống ký hiệu bằng hình ảnh, âm thanh và chữ viết có hiệu lực trên phạm vi rộng và mang tính bắt buộc. Do đó, định nghĩa về Bộ luật vừa mang tính cụ thể vừa mang tính trừu tượng4.

Bộ luật là một tập hợp các quy định thành văn có quan hệ phụ thuộc nhau được sắp xếp theo một trật tự nào đó (theo số thứ tự hoặc theo chủ đề) cho phép tra cứu dưới nhiều góc độ như: bố cục, mục lục, từ, .v.v.. Bộ luật còn là công cụ để phổ biến kiến thức và quản lý trong lĩnh vực pháp luật. Các vấn đề xung quanh phương pháp pháp điển hóa sẽ ít được đề cập mà chúng ta sẽ tập trung hơn vào các phương diện lịch sử, chính trị hay pháp lý. Các phương pháp pháp điển hóa sẽ làm sáng tỏ mục đích của các dự án pháp điển hóa được thực hiện trong nhiều thế kỷ.

1. Pháp điển hóa trong lịch sử và điểm những hạn chế

1.1. Hoạt động pháp điển hóa cho đến trước năm 1804

Nếu chúng ta xem xét những dự án pháp điển hóa thời kỳ trước của một số nhà nước như Hammourabi, Justinien, Théodose hay Napoléon, chúng ta có thể thấy một số điểm chung cũng như những điểm khác biệt gắn liền với nền văn hóa đặc thù của mỗi nước hoặc mỗi thời kỳ.

Các dự án pháp điển hóa này phản ánh sự biểu hiện quyền lực, nó tạo nên uy tín cá nhân cho mỗi vị vua[4] và cho phép duy trì lâu dài sự nghiệp chinh phục các nước[5]. Quan niệm này đã tồn tại khá lâu trong lịch sử, trải qua các thời kỳ từ Hammourabi đến Justinien, Louis XIV và cả những vị vua đã được soi rọi dưới ánh sáng triết học của thế kỷ 18 như Frédéric đại đế (Phổ) hay Vua Joseph II (Áo). Tất cả họ đều tin rằng công việc này vừa mang lại hạnh phúc cho thần dân vừa mang lại vầng hào quang cho các hoàng tử.

Continue reading

PHÁP LỆNH SỐ 86-1243, NGÀY 1 THÁNG 12 NĂM 1986 CỦA CỘNG HÒA PHÁP VỀ TỰ DO GIÁ CẢ VÀ CẠNH TRANH

Chương I – TỰ DO GIÁ CẢ

Điều 1:

Các quy định tại Pháp lệnh số 45-1483 ngày 30/6/1945 nay bị bãi bỏ. Hàng hoá, dịch vụ trước đây thuộc diện quản lý giá theo quy định tại Pháp lệnh trên nay được tự do định giá theo quy luật cạnh tranh.

Đối với những ngành nghề, khu vực hạn chế cạnh tranh qua giá theo quy định của pháp luật hoặc do có độc quyền, có khó khăn trong việc cung ứng hàng hoá, dịch vụ, thì Chính phủ sẽ ban hành nghị định, sau khi tham khảo ý kiến của Hội đồng quản lý cạnh tranh, quy định về khung giá đối với các ngành nghề hay khu vực đó.

Các quy định tại hai khoản trên không làm ảnh hưởng đến việc Chính phủ có thể ban hành Nghị định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hạn chế việc giá cả tăng quá mức trong trường hợp có khủng hoảng, trong những tình huống đặc biệt, thiên tai, địch hoạ hoặc trong trường hợp tình hình diễn biến bất thường trên thị trường trong một ngành nghề sản xuất cụ thể. Chính phủ ban hành Nghị định sau khi tham khảo ý kiến của Hội đồng quốc gia về tiêu dùng. Trong nghị định phải ghi rõ thời hạn hiệu lực, tuy nhiên không được vượt quá 6 tháng.

Chương II – HỘI ĐỒNG QUẢN LÝ CẠNH TRANH

Điều 2:

Quyết định thành lập Hội đồng quản lý cạnh tranh bao gồm 16 thành viên được bổ nhiệm theo Nghị định của Chính phủ trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Kinh tế.

Thành phần gồm :

1/ Bẩy người hiện đang là thành viên hoặc cựu thành viên của Tham chính viện, Toà kiểm toán, Toà phá án hoặc các Toà án hành chính hoặc tư pháp khác.

Continue reading

TÌM HIỂU VỀ CHỈ SỐ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI

VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Báo cáo mức độ thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh (gọi tắt là Báo cáo Môi trường kinh doanh (MTKD) – Doing Business (DB)) của Ngân hàng Thế giới là Báo cáo kết quả điều tra, khảo sát về các quy định dẫn tới thúc đẩy hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh. Đây là báo cáo thường niên, được thực hiện hàng năm kể từ năm 2003. Báo cáo đưa ra bảng xếp hạng tổng hợp về môi trường kinh doanh dựa trên bộ chỉ số đánh giá về các quy định liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp và về bảo vệ quyền sở hữu, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước. Để thực hiện bảng xếp hạng này, Ngân hàng thế giới tập hợp thông tin về những thay đổi trong khuôn khổ pháp lý, thủ tục hành chính và những trở ngại về kỹ thuật trong việc bắt đầu thành lập hoặc mở rộng hoạt động của một doanh nghiệp.

Báo cáo Môi trường kinh doanh lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 2003 (với tên gọi Doing Business 20041) xem xét 5 chỉ số và 133 nền kinh tế. Đến năm 2018, Doing Business 2019 (công bố ngày 31/10/2018) xếp hạng 190 nền kinh tế; gồm cả những nền kinh tế nhỏ nhất và một số nước nghèo nhất. Qua các năm, số lượng các chỉ số và các nước khảo sát được mở rộng.

Mục tiêu của báo cáo nhằm cung cấp cơ sở khách quan cho việc tìm hiểu và cải thiện môi trường pháp lý và thực thi đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ số trong Doing Business thể hiện các nội dung sau:

– Thứ nhất, đo lường chất lượng các quy định; đánh giá được tính phức tạp thể hiện qua các quy định;

– Thứ hai, đo lường thời gian và chi phí tuân thủ các quy định (chẳng hạn như thời gian và chi phí thực hiện hợp đồng, thủ tục phá sản hay thương mại qua biên giới,…);

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: