CÔNG VĂN SỐ 1288/HTQTCT-HT NGÀY 15 THÁNG 9 NĂM 2016 CỦA CỤC HỘ TỊCH, QUỐC TỊCH, CHỨNG THỰC–BỘ TƯ PHÁP VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH MỘT SỐ BIỂU MẪU HỘ TỊCH BAN HÀNH KÈM THEO THÔNG TƯ SỐ 15/2015/TT-BTP

Kính gửi: Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Thời gian qua, cơ quan đăng ký hộ tịch trên cả nước đã triển khai thực hiện Luật hộ tịch, các văn bản quy định chi tiết thi hành, sử dụng các biểu mẫu hộ tịch ban hành kèm theo Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp  (Giấy tờ hộ tịch, phụ lục, Sổ hộ tịch, Tờ khai – Civillawinfor) đáp ứng được yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân. Tuy nhiên, theo phản ánh của địa phương, vẫn có một số biểu mẫu hộ tịch còn bị lỗi, chưa bảo đảm đồng bộ, thống nhất.

Trên cơ sở tổng hợp ý kiến phản ánh của địa phương và thực hiện rà soát thực tế, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực thấy các biểu mẫu hộ tịch chủ yếu là bị lỗi về kỹ thuật trình bày, sai sót trong phần chú thích, hướng dẫn. Được sự đồng ý của Lãnh đạo Bộ, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực đã chỉnh sửa các biểu mẫu này (có các biểu mẫu đã chỉnh sửa kèm theo) và đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực thông báo để các Sở Tư pháp thông tin tiếp cho các cơ quan đăng ký hộ tịch tại địa phương biết, tải về để sử dụng, bảo đảm đồng bộ, thống nhất./.

DANH MỤC

CÁC BIỂU MẪU HỘ TỊCH BAN HÀNH KÈM THEO THÔNG TƯ SỐ 15/2015/TT-BTP ĐƯỢC CHỈNH LÝ, BỔ SUNG
(Ban hành kèm theo Công văn số 1288/HTQTCT-HT ngày 15/9/2016)

Continue reading

Advertisements

NHÌN VÀO MÃ VẠCH HÀNG HÓA, BẠN SẼ BIẾT NÓ TỪ ĐÂU, GIẢ HAY THẬT

THANH HỮU – Thư viện Pháp luật (Tổng hợp)

Dù Việt Nam đã có hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng; tuy nhiên, điều tiên quyết là mình tự bảo vệ chính mình trước khi cần người khác bảo vệ mình.clip_image002

Bởi vậy, bài viết này xin đề cập về ý nghĩa của mã vạch của hàng hóa để mọi người hiểu rõ nhằm phần nào biết được xuất xứ của hàng hóa, nó là hàng giả hay hàng thật… một cách thuận tiện hơn.

1. Ý nghĩa của 13 con số trên mã vạch hàng hóa

Hiện nay ở Việt Nam, hàng hóa trên thị trường hầu hết áp dụng chuẩn mã vạch EAN của Tổ chức mã số vật phẩm quốc tế – EAN International với 13 con số, chia làm 4 nhóm, có cấu tạo và ý nghĩa từ trái qua phải như sau (như hình minh họa dưới):

clip_image003 clip_image004

 

– Nhóm 1: Từ trái sang phải, ba chữ số đầu là mã số về quốc gia (vùng lãnh thổ)

– Nhóm 2: Tiếp theo gồm bốn chữ số là mã số về doanh nghiệp.

– Nhóm 3: Tiếp theo gồm năm chữ số là mã số về hàng hóa.

– Nhóm 4: Số cuối cùng (bên phải) là số về kiểm tra.

2. Kỹ năng xem mã vạch – Bước đầu nhận biết hàng thật, hàng giả:

Thứ 1: Xem 3 chữ số đầu tiên của mã vạch và đối chiếu với bảng hệ thống mã vạch quy chuẩn dưới đây để biết được xuất xứ quốc gia của mặt hàng.

Ví dụ: Nếu 3 chũ số đầu là 893 thì mặt hàng này được sản xuất ở Việt Nam, nếu là 690, 691, 692, 693 là của Trung Quốc, 880 là của Hàn Quốc, 885 là của Thái Lan.

Continue reading

ĐẶC TRƯNG CỦA BẢO HIỂM NHÂN THỌ

 PHÙNG ĐẮC LỘC Giám đốc Quỹ “Vì cuộc sống tươi đẹp” Dai-ichi Life Việt Nam

Bảo hiểm nhân thọ là cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm đáp ứng nhu cầu một khoản tài chính (số tiền chi trả) trong tương lai của người tham gia bảo hiểm đã lựa chọn để sử dụng khi xảy ra các rủi ro, sự cố bất ngờ hoặc các sự kiện được bảo hiểm đã được quy định trong hợp đồng bảo hiểm, đồng thời người tham gia bảo hiểm cam kết đóng phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn như hợp đồng bảo hiểm đã quy định.

Các rủi ro được bảo hiểm có thể bao gồm: thiên tai, tai nạn bất ngờ, ốm đau, thương tật, tử vong.

Các sự cố bất ngờ được bảo hiểm bao gồm những sự cố nếu xảy ra sẽ ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính (tiền bạc) của người tham gia bảo hiểm khi bị giảm sút hoặc mất thu nhập (nghĩa vụ chu cấp tài chính cho gia đình và người thân như trước khi xảy ra sự cố được bảo hiểm).

Các sự kiện được bảo hiểm bao gồm những sự kiện lường trước được, chắc chắn xảy ra và khi xảy ra cần có nguồn tài chính từ chi trả quyền lợi bảo hiểm theo quy định của hợp đồng bảo hiểm để triển khai thực hiện sự kiện đó. Có thể bao gồm cả trường hợp người tham gia bảo hiểm đã bị tử vong, thương tật toàn bộ vĩnh viễn trước khi xảy ra sự kiện (với hợp đồng có điều khoản miễn đóng phí với trường hợp trên) như: cho con theo học phổ thông trung học, đại học, học nghề, dựng vợ gả chồng, tậu nhà, mua xe hơi, nghỉ hưu…

Từ khái niệm trên về bảo hiểm nhân thọ, các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có những đặc trưng sau đây:

1. Đặc trưng thứ nhất: vừa bảo vệ trước những rủi ro vừa tích lũy tiết kiệm

– Bảo vệ người được bảo hiểm trước những rủi ro là đặc tính không thể thiếu được của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, mất đi đặc tính này thì không còn được gọi là bảo hiểm. Bảo hiểm nhân thọ bảo hiểm rủi ro liên quan đến tính mạng, sức khỏe (đau ốm, bệnh tật, mất khả năng lao động) có tính dài hạn (5 năm, 10 năm,… suốt đời). Ngoài bù đắp chi phí điều trị ốm đau thương tật, bảo hiểm nhân thọ có thể chi trả các khoản tài chính để bù đắp chi phí: thuê người chăm sóc khi điều trị, giảm sút thu nhập trong thời gian điều trị (tiền lương), giảm sút thu nhập sau thời gian điều trị (không đảm nhận được các công việc trước đây), chi phí nuôi dưỡng thân nhân hoặc nghĩa vụ trả các khoản nợ đang vay của người được bảo hiểm khi họ bị tử vong…

Continue reading

DOANH NGHIỆP VÀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

NGUYÊN THẢO

Luật Trọng tài thương mại đã được Quốc Hội thông qua tại kỳ họp tháng 6/2010. Đối với nhiều doanh nghiệp, luật này còn khá xa lạ. Theo thống kê của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam ở nước ta khi xảy ra tranh chấp thương mại 89% trường hợp các bên đưa nhau ra toà án để giải quyết.

Trong khi đó, theo thống kê quốc tế, 90% các doanh nghiệp quốc tế chọn con đường trọng tài để giải quyết tranh chấp thương mại và chỉ có 10% số vụ việc là qua toà án. Vì sao đại đa số các doanh nnghiệp quốc tế lại chọn giải pháp trọng tài? Phân tích vấn đề này, các chuyên gia đưa ra những nguyên nhân sau.

Giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường trọng tài có những ưu điểm nổi bật nên nhiều doanh nghiệp quốc tế lựa chọn biện pháp này. Đó là:

– Nhanh chóng: Theo thủ tục tố trụng trọng tài, thời gian thụ lý giải quyết tranh chấp chỉ thu gọn trong vài tháng. Ở đây không có quá trình điều tra, xác minh mà tự các bên liên quan phải cung cấp đầy đủ căn cứ, tài liệu theo luật định cho Trung tâm trọng tài. Hội đồng trọng tài sẽ dựa trên những chứng cứ đó và các bộ luật để phân tích, đánh giá, phán quyết. Khi cần yêu cầu bổ sung thêm tài liệu, hồ sơ, Trung tâm trọng tài sẽ thông báo cụ thể đến bên liên quan và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các bên thực hiện nhiệm vụ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

– Sâu về chuyên môn: Các trọng tài viên của một Trung tâm trọng tài bao gồm hai nhóm: nhóm chuyên gia và nhóm luật sư. Nhóm đầu là những chuyên gia đầu ngành của nhiều lĩnh vực được Trung tâm mời làm trọng tài viên tham gia xử các vụ việc có liên quan đến chuyên ngành mà chuyên gia đang làm việc và có nhiều kinh nghiệm. Vì vậy, cùng với các luật sư trong hội đồng trọng tài, các khía cạnh chuyên môn được mổ xẻ, phân tích một cách khoa học, khách quan và nhanh chóng. Đây là một trong các ưu điểm nổi trội của phương pháp trọng tài.

Continue reading

THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP CẦN QUAN TÂM GÌ?

LS. ANH HỒNG NGÂN & LS. NGUYỄN HỮU PHƯỚC – Công ty Luật Phước & Partners

Quyết định thành lập doanh nghiệp (DN) là một quyết định quan trọng đối với bất kỳ nhà đầu tư nào, đặc biệt là những người mới khởi nghiệp. Sau quyết định quan trọng đó, chính là lúc các nhà đầu tư tiến hành các thủ tục pháp lý để thành lập DN. Thủ tục pháp lý thành lập DN hiện nay khá đơn giản và thời gian xin cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (ĐKKD) cũng không dài, nên có rất nhiều DN được thành lập trong những năm gần đây.

Trong giai đoạn tiền thành lập này, các nhà đầu tư thường có khuynh hướng tập trung vào các vấn đề thương mại khác của DN như tìm hiểu thị hiếu khách hàng tiềm năng, chọn địa điểm kinh doanh, tìm nguồn vốn, nguồn nhân lực, nguồn cung cấp để phục vụ cho dự án kinh doanh…

Việc làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận ĐKKD thường được nhà đầu tư xem nhẹ và coi là bước thủ tục phải làm mà không đặt trọng tâm vào. Tuy nhiên, trong thực tế có một số vấn đề pháp lý phát sinh có liên quan đến thủ tục xin cấp giấy chứng nhận ĐKKD mà các nhà đầu tư (đặc biệt là những người mới khởi nghiệp) cần lưu ý.

1. Cần xác định ngành nghề kinh doanh cho DN

Xác định được ngành nghề kinh doanh cho DN rất quan trọng vì ngoài thủ tục ĐKKD thông thường, ở một số loại ngành nghề, các nhà đầu tư còn phải xin thêm giấy phép kinh doanh, phải có chứng chỉ hành nghề, hoặc phải đáp ứng thêm một số điều kiện đặc thù của ngành nghề đó mà pháp luật quy định cũng như phải thực hiện đúng các điều kiện đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh.

Hiện nay pháp luật DN quy định ba loại hình của ngành nghề kinh doanh chính mà đòi hỏi nhà đầu tư phải thỏa mãn thêm một số yêu cầu đối với việc ĐKKD, đó là: (i) các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, (ii) các ngành, nghề kinh doanh phải có vốn pháp định, và (iii) các ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề.

Continue reading

KHI NÀO DOANH NGHIỆP LÀ MỘT PHÁP NHÂN?

LG. CAO BÁ KHOÁT – Thành viên Tổ Thi hành Luật Doanh nghiệp của Thủ tướng Chính phủ

(Bài được viết vào thời điểm Luật Doanh nghiệp năm 2005 và BLDS năm 2005 chưa được ban hành, nên một số thông tin có thể không còn phù hợp – Civillawinfor)

Tuy có nhiều tên gọi khác nhau, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) 1 thành viên, công ty TNHH 2 thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh… nhưng nếu xét về trách nhiệm tài sản của nhà đầu tư đối với các khoản nợ của doanh nghiệp thì chỉ có hai loại:

Một là, nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của doanh nghiệp, thường gọi họ là các thể nhân;

Hai là, nhà đầu tư chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ của doanh nghiệp, loại doanh nghiệp này được gọi một tên chung là pháp nhân.

Một người khởi nghiệp muốn thành lập doanh nghiệp của mình, trước hết phải có nhận thức đầy đủ về pháp nhân, phải thấy được pháp nhân khác với không có tư cách pháp nhân như thế nào? Theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Dân sự, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ 4 điều kiện sau đây:

1. Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận

Pháp nhân là người do pháp luật sinh ra. Pháp nhân không có đời sống sinh học, không biết yêu, ghét, chỉ có đời sống pháp lý. Do vậy, pháp nhân phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận. Được khai sinh hợp pháp là dấu hiệu đầu tiên của một tổ chức muốn được công nhận là pháp nhân. Như vậy, một doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, tức là được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận việc khai sinh ra doanh nghiệp và tương tự như vậy với các DNNN, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…

Continue reading

MỸ CÔNG BỐ ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ BẢO HIỂM

NGUYỄN THANH TÙNG – Chuyên gia Tiền tệ VietinBank

Ngày 21/4/2010 tại WASHINGTON D.C. Mỹ, các đại diện nhà chức trách Mỹ đã họp báo giới thiệu và công bố: thời gian tới (10/02/2011) sẽ phát hành vào lưu thông loại 100 USD thế hệ mới. Dưới đây là những đặc điểm cấu tạo, bảo hiểm của tờ 100 USD mới:

Dây bảo hiểm 3-D:  Dây bảo hiểm màu xanh ở mặt trước của tờ 100 Dollar với hình ảnh những cái chuông và những con số 100. Chao nghiêng tờ tiền về phía sau và phía trước khi xem dây bảo hiểm, sẽ thấy những chiếc chuông đổi thành những con số 100 khi chúng di chuyển. Nếu chao nghiêng tờ tiền về phía trước và phía sau, những chiếc chuông và những con số 100 sẽ di chuyển lên trên và xuống dưới. Nếu chao nghiêng tờ tiền sang hai bên, chúng sẽ di chuyển về phía trước và phía sau. Dây bảo hiểm được đan bên trong tờ tiền, chứ không được in và sử dụng vi công nghệ tiên tiến. Có gần một triệu vi thấu kính được sử dụng để tạo ảo giác về những chiếc chuông và những con số 100 đang chuyển động.

Chuông trong lọ mực: Hình ảnh của một chiếc chuông đặt trong một lọ mực màu đồng ở mặt trước tờ 100 Dollar mới. Tùy thuộc vào góc của tờ tiền, hình ảnh chiếc chuông đổi màu từ màu đồng sang màu xanh, đây là hiệu ứng làm cho chiếc chuông như hiện rồi lại ẩn trong lọ mực.

Continue reading

2 TRƯỜNG HỢP CÔNG CHỨC ĐƯỢC HƯỞNG CHẾ ĐỘ THÔI VIỆC

ĐỨC TRUNG (Theo Nghị định số 46/2010/NĐ-CP)

Thực thi Luật Cán bộ, công chức đã có hiệu lực từ ngày 1/1/2010, Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định về thôi việc và thủ tục nghỉ hưu đối với công chức. Đây cũng là Nghị định thứ 4 của Chính phủ kể từ đầu năm đến nay quy định những vấn đề liên quan đến công chức.

Theo Nghị định, có 2 trường hợp công chức được hưởng chế độ thôi việc. Trường hợp thứ nhất là theo nguyện vọng và được cơ quan, tổ chức, đơn vị (CQ-TC-ĐV) có thẩm quyền đồng ý. Trường hợp thứ 2 là do công chức có 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ theo quy định của Luật Cán bộ, Công chức.

Trường hợp công chức xin thôi việc theo nguyện vọng, phải làm đơn gửi CQ-TC-ĐV có thẩm quyền xem xét. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đơn, CQ-TC-ĐV có thẩm quyền phải ra quyết định thôi việc bằng văn bản nếu đồng ý, còn nếu không đồng ý cho công chức thôi việc thì cũng phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
Với trường hợp thôi việc do công chức 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ, trong thời gian 30 ngày kể từ ngày có kết quả phân loại đánh giá công chức, CQ-TC-ĐV có thẩm quyền thông báo bằng văn bản đến công chức đó về việc giải quyết thôi việc đến công chức, trừ trường hợp khác quy định tại Luật Công chức. Cũng với thời hạn 30 ngày kể từ ngày có thông báo bằng văn bản, CQ- TC- ĐV ra quyết định thôi việc đối với công chức. Kể từ ngày quyết định thôi việc được ban hành, CQ-TC-ĐV phải có trách nhiệm thanh toán trợ cấp thôi việc đối với công chức trong thời hạn 30 ngày.

Mức hưởng trợ cấp thôi việc

Công chức thôi việc theo quy định tại Nghị định này, cứ mỗi năm làm việc được tính bằng 1/2 tháng lương hiện hưởng gồm: mức lương theo ngạch, bậc, phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung,  phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có). Mức trợ cấp thấp nhất bằng 1 tháng lương hiện hưởng.

Continue reading

KINH NGHIỆM LÀM ĐƠN YÊU CẦU XỬ LÝ XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

LÊ TẤT CHIẾN & NGUYỄN HÙNG

Để xử lý có hiệu quả các hành vi xâm phạm quyền sở hữ trí tuệ (SHTT), bên cạnh sự cần thiết của việc phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền, thì việc doanh nghiệp cung cấp những thông tin, chứng cứ liên quan đến các hành vi xâm phạm vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ, nhưng cũng là quyền lợi của doanh nghiệp trong việc phối hợp nhằm tăng cường hiệu quả thực thi quyền SHTT.

Cũng như tài sản vật chất, một trong những quyền quan trọng của chủ sở hữu tài sản trí tuệ đó là quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng SHTT. Để thực hiện quyền này, doanh nghiệp có thể thông báo cho người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hay tòa án xử lý hành vi xâm phạm (theo Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009). Trong thực tế, nếu là hành vi xâm phạm do vô ý thì thường người xâm phạm sẽ tự giác dừng việc sử dụng bất hợp pháp đó, còn nếu là cố ý thì việc thông báo trước là vô nghĩa. Vì vậy, doanh nghiệp phải chủ động yêu cầu các cơ quan chức năng xử lý chứ không chờ đến hoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơ quan này. Thời gian vừa qua, nhiều vụ xâm phạm quyền SHTT việc xử lý bị kéo dài là do thiếu các căn cứ pháp lý và chứng cứ không đầy đủ, rõ ràng. Vậy thì, để việc bảo vệ quyền SHTT có hiệu quả, khi gửi đơn yêu cầu cơ quan chức năng xử lý hay tòa án giải quyết, doanh nghiệp cần nắm vững và tuân thủ các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ doanh nghiệp trong việc đề nghị xử lý hay khởi kiện xâm phạm quyền SHTT.

Trước hết, khi gửi đơn, doanh nghiệp phải gửi kèm theo các tài liệu chứng minh mình là chủ thể quyền SHTT. Tức là, doanh nghiệp có quyền yêu cầu xử lý hoặc khởi kiện, khi ấy cơ quan chức năng hay tòa án mới thụ lý hồ sơ. Cụ thể là, nếu là sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý thì các tài liệu chứng minh chủ thể quyền bao gồm bản gốc văn bằng bảo hộ đang có hiệu lực (nếu là bản sao thì phải có công chứng, chứng thực) hoặc bản trích lục sổ đăng ký quốc gia các đối tượng trên (được lưu giữ tại Cục SHTT).

Continue reading

THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH

THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ CHƯA CẬP NHẬT

1. Khái quát cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh

1.1. Khái quát về cạnh tranh

a) Khái niệm cạnh tranh

Cạnh tranh có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau. Từ góc độ kinh tế – pháp lý, cạnh tranh được hiểu là sự chạy đua (ganh đua) giữa các thành viên cùng một thị trường nhằm mục đích lôi kéo khách hàng, gia tăng thị phần của một thị trường hàng hóa, dịch vụ cụ thể.

– Cạnh tranh với tính chất là động lực nội tại thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế chỉ tồn tại trong điều kiện kinh tế thị trường. Cạnh tranh không những là môi trường và động lực thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả của các doanh nghiệp, mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế – xã hội.

b) Nhận dạng cạnh tranh

– Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của công quyền vào hoạt động kinh doanh, thị trường được chia thành hai hình thái: Cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiết.

– Căn cứ vào cơ cấu thành viên thị trường và mức độ tập trung trong một lĩnh vực kinh doanh, thị trường được phân chia thành các hình thái: Cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo (mức độ cao nhất là độc quyền).

– Căn cứ vào mục đích, tính chất của các phương thức cạnh tranh, các hành vi cạnh tranh trên các hình thái, thị trường được phân chia thành: Cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.

Continue reading

QUI TRÌNH CỦA THANH TRA BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ XỬ LÝ ĐƠN YÊU CẦU XỬ LÝ XÂM PHẠM SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

%d bloggers like this: