Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

KINH NGHIỆM XÉT XỬ ÁN LAO ĐỘNG

TÒA LAO ĐỘNG, TAND TP.HCM

Từ năm 1994 đến nay, Bộ luật Lao động đã được ban hành 2 lần vào năm 1994 (được sửa đổi 3 lần vào các năm 2002, 2006 và 2007) và năm 2012, nhưng Hội đồng Thẩm phán -TANDTC chưa ban hành Nghị quyết nào hướng dẫn xét xử tranh chấp lao động, các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động của Chính phủ vẫn còn chung chung, chưa đầy đủ và thống nhất.

Hiện nay, việc xét xử tranh chấp lao động của các Thẩm phán phần lớn dựa vào việc tự nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm của người đi trước, tham khảo ý kiến cơ quan quản lý nhà nước về lao động ở địa phương, cùng một số tài liệu rút kinh nghiệm và hướng dẫn riêng lẻ của TANDTC trong Hội nghị tổng kết hàng năm, v.v . . mặt khác, tại Thành phố Hồ Chí Minh, các Tòa án cấp Quận Huyện thường không phân công Thẩm phán chuyên xử án lao động, số lượng tranh chấp lao động ở mỗi đơn vị hàng năm không lớn, về tâm lý một số Thẩm phán cũng không thích xử án lao động, chưa tích cực nghiên cứu trau dồi kiến thức và kỹ năng giải quyết án lao động nên việc tự nghiên cứu chưa sâu, v.v . . . là một số nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng xét xử án lao động chưa cao trong thời gian qua.

Tòa Lao động -TAND TP.HCM tập hợp một số sai sót phổ biến trong giải quyết án lao động, trình bày thành chuyên đề “ Một số sai sót chủ yếu trong giải quyết án lao động”, mong nhận được sự chú ý.

I. Một số sai sót chủ yếu trong giải quyết tranh chấp lao động

Continue reading

Advertisements

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN BẤT ĐỘNG SẢN

 ĐỖ KHẮC TUẤN – Tòa án nhân dân TP.HCM

Bất động sản là đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai hoặc các tài sản khác do pháp luật quy định.

Do tính chất đặc thù của bất động sản là vật luôn cố định tại một vị trí địa lý nhất định cho nên để thuận tiện cho việc giải quyết tranh chấp về bất động sản, pháp luật đã quy định tranh chấp về bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản mới có thẩm quyền giải quyết[1]. Do đó, khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến bất động sản, Tòa án cần phải phân biệt được tranh chấp về bất động sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nơi có bất động sản với tranh chấp về các quyền, nghĩa vụ khác có liên quan đến bất động sản thuộc thẩm quyền của Tòa án theo các tiêu chí khác của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015( Bộ luật TTDS 2015)[2].

1. Tiêu chí xác định một tranh chấp liên quan đến bất động sản là tranh chấp về bất động sản

Tranh chấp về bất động sản là tranh chấp về quyền của các bên đối với bất động sản như: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với bất động sản, có thể đơn cử một số tranh chấp về bất động sản như: Tranh chấp về quyền sử dụng đất; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt nhà ở, công trình xây dựng trên đất…

Continue reading

CẦM GIỮ TÀI SẢN, BẢO LƯU QUYỀN SỞ HỮU THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

TS. ĐOÀN THỊ PHƯƠNG DIỆP – Khoa Luật, Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. HCM

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được sử dụng từ khá lâu trong đời sống thực tiễn và phát huy tác dụng rõ rệt nhất là trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng.Có thể nói rằng, các biện pháp bảo đảm đóng vai trò mang tính sống còn trong sự vận hành của lĩnh vực này.

Hiện nay, ở Việt Nam tồn tại song song hai hệ thống các quy định về giao dịch bảo đảm, hệ thống các quy định về giao dịch bảo đảm nói chung áp dụng với tất cả các giao dịch dân sự và hệ thống các biện pháp bảo đảm áp dụng tại các tổ chức tín dụng. Trong đó, giao dịch bảo đảm giữ vai trò là nền tảng cơ bản. Từ BLDS đầu tiên của Việt Nam năm 1995 đến BLDS năm 2015, chế định này đã trải qua khá nhiều sự thay đổi (cả về tư tưởng chủ đạo trong việc xây dựng chế định cũng như các quy định cụ thể trong lĩnh vực này)[1].

Có nhiều cách phân loại khác nhau đối với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, như:

– Căn cứ vào đối tượng của biện pháp bảo đảm: Bảo đảm đối nhân, bảo đảm đối vật;

– Căn cứ vào sự hình thành của biện pháp bảo đảm: Biện pháp bảo đảm hình thành trên cơ sở hợp đồng, biện pháp bảo đảm hình thành trên cơ sở các quy định của pháp luật.

So với quy định của BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 đã có khá nhiều thay đổi liên quan đến các quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, ở góc độ tổng thể, có thể thấy sự thay đổi rõ ràng nhất đến từ các quy định của pháp luật liên quan đến hai biện pháp bảo đảm, đó là cầm giữ tài sản và bảo lưu quyền sở hữu.

Continue reading

TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ: ỦY QUYỀN CỦA CÔNG TY, GHI THẾ NÀO CHO ĐÚNG?

LS. KIỀU ANH VŨ

Cùng một vấn đề pháp lý, các thẩm phán, tòa án có thể có những quan điểm pháp lý khác nhau.

Từ một tình huống thực tiễn…

Công ty A làm giấy ủy quyền cho ông X để ông X đại diện cho công ty A khởi kiện, tham gia tố tụng trong một vụ án kinh doanh thương mại tại tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ. Giấy ủy quyền ghi rõ các thông tin của công ty A theo thứ tự người ủy quyền là công ty A, mã số doanh nghiệp, địa chỉ của của công ty A và thông tin về người đại diện theo pháp luật của công ty A; ngoài ra còn có các nội dung về người được ủy quyền, nội dung ủy quyền, thời hạn ủy quyền. Giấy ủy quyền này do chính người đại diện theo pháp luật của công ty A ký tên và được đóng dấu công ty A.

Tuy vậy, khi nhận giấy ủy quyền này kèm theo đơn khởi kiện, tòa án nhân dân thành phố B đã ban hành thông báo sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, yêu cầu công ty A “bổ sung làm lại giấy ủy quyền cá nhân đại diện theo pháp luật của công ty ủy quyền”. Theo tòa án, giấy ủy quyền phải là giấy ủy quyền của cá nhân người đại diện theo pháp luật của công ty A, nghĩa là trong phần người ủy quyền phải ghi là ông Nguyễn Văn Y – đại diện theo pháp luật của công ty A ủy quyền cho ông X.

Yêu cầu này của tòa án đặt ra một vấn đề pháp lý là việc ủy quyền của công ty ghi thế nào cho đúng? Chính công ty là người ủy quyền hay cá nhân người đại diện theo pháp luật của công ty là người ủy quyền?

Đến quy định của pháp luật

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ MÀ MỘT BÊN LÀ NHẠC SỸ HOÀI AN: TRÁI PHÁP LỆNH NHƯNG KHÔNG TRÁI LUẬT, CÓ VÔ HIỆU?

CIVILLAWINFOR Tổng hợp

1. Nội dung vụ việc (1)

TAND TP.HCM tuyên thỏa thuận giữa nhạc sĩ Hoài An và ông Lê Văn Năm vô hiệu, buộc nhạc sĩ Hoài An phải trả lại số tiền đã nhận để làm album cho con ông Năm.

Ngày 24-8, TAND TP.HCM đã chấp nhận yêu cầu chấm dứt hợp đồng của nguyên đơn, buộc nhạc sỹ Hoài An hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 10.000 USD đã nhận, tương đương 227 triệu đồng.

Đây là vụ tranh chấp hợp đồng dịch vụ giữa nguyên đơn là ông Lê Văn Năm (54 tuổi, ngụ Bình Thạnh) và bị đơn là ông Võ Đại Hoài An (nhạc sĩ Hoài An).

Theo đơn khởi kiện, năm 2012 do muốn con trai mình là Lê Hoàng Dũng trở thành ca sĩ nên ông Năm gặp nhạc sĩ Hoài An.

Hai bên ký hợp đồng kinh tế với nội dung nhạc sĩ Hoài An sẽ thực hiện cho con trai ông một album gồm 9 bài hát gồm nhiều thể loại, phải đảm bảo chất lượng và quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Thời gian thực hiện hợp đồng là hai năm kể từ ngày ký.

Phía ông Năm sẽ được sở hữu album và có trách nhiệm đảm bảo lịch thu âm, luyện tập, cung cấp đầy đủ thông tin, hình ảnh.

Chi phí sáng tác là 1.000 USD/bài, hoà âm 100 – 150 USD/bài, phí quản lý, thực hiện 2.000 USD/tháng…

Continue reading

QUẢN LÝ RỦI RO PHÁP LÝ KHI CHO VAY VÀ NHẬN THẾ CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN TRONG KHU CÔNG NGHIỆP

TS. BÙI ĐỨC GIANG – Đại học Paris 2, Cộng hòa Pháp

Trong thực tế cấp tín dụng hiện nay, việc tài trợ vốn có bảo đảm bằng bất động sản cho các dự án trong các khu công nghiệp ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, do khuôn khổ pháp lý về thuê đất khu công nghiệp khá phức tạp và còn có những hạn chế nhất định, cho nên việc tài trợ vốn này còn tiềm ẩn khá nhiều rủi ro đối với các tổ chức tín dụng.

Các hình thức có đất thực hiện dự án của chủ đầu tư

Khoản 3, Điều 90, Luật đất đai số 13/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Luật đất đai 2003) quy định “Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm đối với tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê hoặc thu tiền thuê đất hàng năm đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài để đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp”.

Theo quy định tại khoản 2,Điều 149, Luật đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013 (Luật đất đai 2013), “Nhà nước cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp […]”.

Như vậy, có thể thấy, nếu như theo Luật đất đai 2003, doanh nghiệp đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp (chủ đầu tư) có thể được giao đất hoặc cho thuê đất để xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp thì đến Luật đất đai 2013, thuê đất là hình thức pháp lý duy nhất để chủ đầu tư có đất thực hiện loại dự án kinh doanh này.

Continue reading

NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA CÁC BỘ LUẬT DÂN SỰ TRÊN THẾ GIỚI VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

 THS. LÊ NGUYỄN GIA THIỆN – Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG TP.HCM

CN. LÊ NGUYỄN GIA PHÚC

Trong hệ thống các luật thành văn, bộ luật dân sự – BLDS (gọi tắt là Bộ dân luật – BDL) đóng vai trò nền tảng, định hướng và xác lập một khung pháp lý điều chỉnh toàn bộ đời sống dân sự. Khi soạn thảo một BDL, các nhà lập pháp luôn chú trọng đến việc chế định các nguyên tắc[1] của BDL đó, bởi lẽ các nguyên tắc này là những tư tưởng, quan điểm pháp lý cơ bản mang tính chỉ đạo mà một BDL cần phải có để bao quát, định hướng tất cả các điều khoản, các chế định nằm trong chính BDL.

Ngoài ra, khi cơ quan tài phán giải thích một điều luật không rõ nghĩa hoặc có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau mà không thể tìm thấy đáp án thích hợp ở chính điều luật đó hoặc ở chế định bao hàm điều luật đó thì cơ quan tài phán có thể viện dẫn các tục lệ và các nguyên tắc căn bản của BDL để giải thích điều luật.

1. Sự tồn tại các nguyên tắc của Bộ dân luật

Cần phải khẳng định rằng, không phải mọi BDL đều quy định một cách rõ ràng, tách bạch về các nguyên tắc chung; hay nói khác đi là trong tiến trình lập pháp, có hai quan điểm đối lập nhau về sự xuất hiện của các nguyên tắc chung, có BDL không chế định hẳn một phần dành cho các nguyên tắc chung, cũng có BDL quy định theo hướng ngược lại.

Continue reading

MỘT VÀI GỢI MỞ NGHIÊN CỨU VỀ SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ CỦA VIỆT NAM (BLDS 2015)

NGUYỄN HỒNG HẢI – Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế, Bộ Tư pháp

“Nghiên cứu này chưa đề cập đến việc pháp điển hóa vào BLDS, mối quan hệ với các Luật thương mại, Luật bảo vệ người tiêu dùng, Luật nhà ở…; và những vấn đề Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện trong tương lai”.

A. TRIẾT LÝ PHÁP LÝ CƠ BẢN[1] – {2]

I. Tiếp cận phổ quát

1. Bảo đảm BLDS là luật của tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự; luật của các quan hệ thị trường và phù hợp với tập quán, thông lệ quốc tế.

2. Bảo đảm được 2 giá trị căn bản nhất của xã hội kinh tế thị trường là chủ thể bình đẳng, tự do – tự nguyện trong quan hệ tư; nhà nước, cơ quan nhà nước khi tham gia quan hệ tư bình đẳng với các chủ thể khác; hạn chế tối đa sự can thiệp của Nhà nước vào các quan hệ tư.

3. Việc sửa đổi BLDS phải đặt trong sự tồn tại, vận hành của cả hệ thống thể chế kinh tế thị trường, hệ thống văn bản pháp luật tư[3] và trong sự phát triển đa dạng, không ngừng của kinh tế – xã hội.

Trong đó, BLDS có vị trí, vai trò là nền tảng pháp lý, “Hiến pháp” của hệ thống pháp luật tư. Quy định của Bộ luật phải có tính khái quát, ổn định, khả thi, không chỉ đáp ứng yêu cầu của thực tiễn hiện tại mà còn phải dự báo tốt, đáp ứng một cách tốt nhất sự thay đổi liên tục của thực tiễn, tạo nền tảng cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật tư trong tương lai.

Các luật chuyên ngành có vai trò cụ thể hóa sự bình đẳng, tự do – tự nguyện trong quan hệ tư thuộc các lĩnh vực kinh tế – xã hội khác nhau bằng các điều luật chi tiết.

4. Xung đột trong quan hệ tư được giải quyết dựa trên các giải pháp gần nhất với công lý. Quyền yêu cầu dân sự và tiếp cận công lý của người dân phải được bảo đảm thực hiện. Tòa án với vai trò là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do không có điều luật để áp dụng. Đa dạng hóa các loại nguồn của luật dân sự và thứ tự ưu tiên các loại nguồn này để các thiết chế tài phán có đủ công cụ pháp lý cần thiết, kịp thời giải quyết các yêu cầu của người dân.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: