ĐỌC VÀ CHIA SẺ: TÔI ĐÃ CỐ GẮNG, NHƯNG TÔI LẠI CẢM THẤY MÌNH YẾU ĐUỐI VÀ SỢ PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI MẤT MÁT

HÙNG NGUYỄN

Civillawinfor nhận được câu chuyện có thật của bạn Hùng Nguyễn (hungmaster2705@gmail.com), đăng để các bạn có thể sẻ chia những ứng xử cần thiết cho người trong cuộc (Một số câu, chữ được sửa đổi cho phù hợp với văn phong của Trang Thông tin).

Vợ chồng tôi cưới nhau từ tháng 2 năm 2010, tới nay đã có hai cháu trai, cháu lớn 6 tuổi và cháu nhỏ 5 tuổi. Vợ chồng tôi làm nghề tóc, vợ tôi là mẫu người của gia đình, rất ngoan hiền, chịu thương, chịu khó, thương yêu chồng con và cũng rất được lòng người thân, làng xóm. Ngược lại, bản thân tôi  là người chồng không tốt, người cha thiếu trách nhiệm, tôi ham mê game, chơi bời vô độ, kết quả bao năm làm kinh doanh và cửa hàng của vợ chồng tôi đều mất cũng vì tôi chơi game. 

Hai năm trước đây, tôi cũng đã quyết tâm cai nghiện game và đã thành công, vợ chồng cũng đã ổn định hơn trong làm ăn. Về tình cảm, tuy cũng có những lúc vợ chồng mâu thuẫn, tôi nóng tính hay mắng chửi vợ, xong hai vợ chồng cũng lại làm lành được với nhau.

Tuy nhiên, với bản tính ham chơi, cùng với suy nghĩ tiêu cực vì kinh tế tôi lại lao vào tệ nạn xã hội, tôi sử dụng ma túy đá sau những cuộc chơi là hậu trường của bê tha, công việc bỏ bê, không giúp được vợ việc nhà… quan hệ vợ chồng vuợt qúa sức chịu đựng của vợ tôi, nên cố ấy đã bế đứa con thứ bỏ đi, sau khi đã gửi cháu lớn về ông bà nội, tới nay được hơn 8 tháng.

Tôi không biện luận cho việc làm sai trái của mình, quyết tâm sửa sai, nỗ lực hết sức mình để mong được vợ tôi tha thứ mà quay về. Thời gian thử thách này mà vợ tôi đưa cho tôi là từ 1 đến 2 năm. Đối vơi tôi, chỉ cần biết con đường tôi sắp phải đi qua có vợ tôi đang chờ ở cuối còn đường đó thì dù là thời gian bao nhiêu lâu tôi vẫn sẽ cố gắng hết sức mình để mong được vợ nhìn nhận vì nghĩ tương lai cuả 2 đứa con, không thể vì mình mà mất đi ánh sáng, tình yêu của tôi dành cho vợ con là vô tận.

Continue reading

Advertisements

PHÁP CHẾ DOANH NGHIỆP VÀ ĐÀO TẠO KỸ NĂNG PHÁP CHẾ DOANH NGHIỆP

THS.LS. PHẠM QUANG HUY – Trưởng Văn phòng luật sư Hàn Sĩ Huy

Bài viết trình bày, bình luận và phân tích khái niệm pháp chế doanh nghiệp, đồng thời kiến nghị đối với việc xây dựng môn học Pháp chế doanh nghiệp ở các trường luật tại Việt Nam. 

1. Pháp chế doanh nghiệp

1.1 Khái niệm

Ở các nước, bộ phận pháp chế (tiếng Anh: lawyer-in-house, corporate counsel, legal department, legal affairs) được doanh nghiệp thuê xử lý các vấn đề pháp lý của doanh nghiệp. Theo đó, bộ phận pháp chế doanh nghiệp thực hiện đầu tiên trách nhiệm pháp lý của công ty và thực hiện các giao dịch pháp lý thông thường. Công việc của bộ phận pháp chế có thể bao gồm lưu trữ tài liệu, xem xét quan hệ lao động, kiểm tra bất động sản, hợp đồng, giấy phép công nghệ, thương hiệu, thuế và hồ sơ pháp lý, tranh tụng. Bộ phận pháp chế doanh nghiệp cũng có thể tạo ra các chính sách quản lý rủi ro và giáo dục các nhân viên khác để tránh rắc rối pháp lý hoặc làm thế nào để nhận ra vấn đề một cách nhanh chóng. Bộ phận pháp chế nên/sẽ ký hợp đồng thuê ngoài (outsourcing) khi tham gia vào một thương vụ mới hoặc chứa đựng rủi ro cao.

Theo Quy tắc Đoàn luật sư Bang Virgina (Mỹ), pháp chế doanh nghiệp là luật sư[1] được định nghĩa là tổ chức với mục đích chính là cung cấp dịch vụ pháp lý cho doanh nghiệp, các định chế (không bao gồm cơ quan chính quyền). Trong tổ chức này, có cá nhân có danh hiệu “pháp chế doanh nghiệp”, “luật sư công ty” hoặc tương đương, chỉ ra rằng người đó đang phục vụ như tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp. Cũng theo Quy tắc này, để thực hiện nghiệp vụ pháp chế doanh nghiệp, một người phải (i) là thành viên Đoàn luật sư Bang Virgina; hoặc (ii) được cấp Giấy chứng nhận luật sư công ty theo Quy tắc của Đoàn luật sư Bang Virgina và do đó, trở thành một thành viên tích cực của Đoàn luật sư Bang Virgina với giới hạn theo Quy tắc Đoàn luật sư Bang Virgina; hoặc (iii) đăng ký với Đoàn luật sư Bang Virgina.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 102/2017/NÐ-CP NGÀY 01 THÁNG 9 NĂM 2017 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Bộ luật dân sự ngày 24 tháng 11 năm 2015;

Căn cứ Bộ luật hàng hải Việt Nam ngày 25 tháng 11 năm 2015;

Căn cứ Luật đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013;

Căn cứ Luật nhà ở ngày 25 tháng 11 năm 2014;

Căn cứ Luật hàng không dân dụng Việt Nam ngày 29 tháng 6 năm 2006 và Luật sửa đi, bổ sung một s điều của Luật hàng không dân dụng Việt Nam ngày 11 tháng 12 năm 2014;

Căn cứ Luật bảo vệ và phát triển rừng ngày 03 tháng 12 năm 2004;

Theo đ nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;

Chính phủ ban hành Nghị định về đăng ký biện pháp bảo đảm.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng tài sản (sau đây gọi chung là đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm); quản lý nhà nước về đăng ký biện pháp bảo đảm.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Cá nhân, pháp nhân có yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, tìm hiểu thông tin về biện pháp bảo đảm.

Hộ gia đình có yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, tìm hiểu thông tin về biện pháp bảo đảm theo quy định của Bộ luật dân sự.

2. Cơ quan có thẩm quyền đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm; cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về đăng ký biện pháp bảo đảm.

3. Cá nhân, pháp nhân khác có liên quan.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

TRA CỨU TOÀN VĂN NGHỊ ĐỊNH TẠI ĐÂY

SỨC MẠNH MỀM CỦA VIỆT NAM VÀ ASEAN ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC

 LÊ VĨNH TRƯƠNG

I. Tổng quan về sức mạnh mềm

Sức mạnh mềm có ba trụ cột văn hóa, giá trị, định hướng (thể chế và phương hướng) ứng với lịch sử, các giá trị hiện tại và sự dấn bước đến tương lai của một dân tộc trong hình thành và phát triển, trong lao động và chiến đấu giữ nước.1

“Sức mạnh mềm cũng là một dạng quyền lực; nếu không hợp nhất được sức mạnh mềm vào chiến lược quốc gia sẽ là một sai lầm nghiêm trọng.” Joseph Nye người đúc kết lại quyền lực mềm mại, nhu chế cương, nhuyễn khắc ngạnh, đã nhấn mạnh tầm quan trọng phải phát triển sức mạnh mềm và liên kết yếu tố này với các yếu tố truyền thống trong chiến lược quốc gia của Mỹ.

Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào cũng đã nhắc đến yếu tố sức mạnh mềm trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 172 .Trung Quốc tập trung hướng sức mạnh mềm đến Đông Á, Châu Phi và Châu Mỹ La tinh. Ngoài hàng loạt viện trợ, hiệp định thương mại và đầu tư cũng như cam kết đầu tư, ở cả ba khu vực trên, Trung Quốc tích cực tuyên truyền văn hóa, ẩm thực, xiếc, múa truyền thống, phim ảnh và thảo dược. Họ đã xây dựng được 128 viện Khổng Giáo trên toàn thế giới và có kế hoạch xây thêm hàng trăm viện nữa nhằm truyền bá văn hóa và ngôn ngữ Trung Quốc 3 .

Trong khi những tài sản của quyền lực cứng như quyền điều động quân đội hoàn toàn thuộc nhà nước để bảo vệ lợi ích công cộng, những tài sản khác của chung quốc gia như dầu khí, tài nguyên, công xưởng, máy bay dân dụng… có thể được chuyển giao cho sự kiểm soát tập thể trong tình hình khẩn cấp. Trái lại, nhiều nguồn lực của quyền lực mềm gần như tách riêng khỏi nhà nước và chỉ đóng góp một phần khi được huy động. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, văn hoá đại chúng Mỹ thường đối đầu với các chính sách nhà nước. Nếu cuộc chiến của chính giới là nhân danh tự do, thì các cuộc phản chiến cũng đã trưng ra tính chất cởi mở của nền dân chủ Mỹ và là chất xúc tác hàn gắn quan hệ Việt Mỹ những năm sau.

Sức mạnh mềm có mặt tại nhiều thực thể và phương diện đa dạng của quan hệ quốc gia và khu vực.

Continue reading

CUỘC SỐNG TA NÊN TẬN HƯỞNG HAY CHỊU ĐỰNG NÓ?

 KIỀU BÍCH HẬU

Thời mới tốt nghiệp đại học, cầm tấm bằng đỏ, ra trường thoắt cái tôi đã tham dự một kì thi tuyển phóng viên và đi làm ngay. Tôi không kịp thư giãn một chút nào trước khi lao đầu vào vòng xoáy điên đảo của kiếm sống.

Giống như bao người Việt thời những năm 1990, phải đi làm, lấy chồng hoặc vợ, tậu đất xây nhà, đẻ con nuôi con ăn học, tiếp tục kiếm tiền để dành phòng thân khi về già, xây nhà thờ ở quê, hoặc khi chết đi có tài sản để lại cho con cháu… Vậy nên không dám mở mắt nhìn thế giới ra sao, sáng ra tôi chăm chỉ guồng cái xe đạp mini tàu đỏ, chỉ nhìn con đường từ nhà ở phố Thọ Lão, tới cơ quan báo ở phố Hồ Xuân Hương (Hà Nội), rồi chăm chăm nhìn vào bản kế hoạch công việc trong ngày, trong tuần là đến giờ nhắm mắt lên giường. Ngay cả công việc mơ ước của tôi là sáng tác truyện ngắn, tiểu thuyết, tôi cũng đã muốn để dành tới qua tuổi bốn mươi mới viết, vì mình còn trẻ, rất nên dành thời gian này để kiếm tiền tích lũy đã, viết văn đâu có đủ sống.

Tuy nhiên, vòng xoáy kiếm sống điên đảo ấy cuốn tôi đi, khiến tôi lạc lối, tôi quên mất cả chính mình, trở thành một người khác, có một ước mơ khác. Tôi từng có thành công về công việc, tài chính, rồi mất mát, rồi đổ vỡ… Hầu như tôi có nhiều thứ trong tay, chỉ có điều tôi không có chính mình.

Ở tuổi ba mươi tư, nhờ một cú sốc tình cảm, mà tôi nhận ra là tôi đang chịu đựng cuộc sống, đang gồng mình lên gánh cuộc sống trên vai mà đi mải miết, không kịp nhìn ngắm chính mình. Khi tôi dám quyết định chấm dứt lối sống ấy, tôi đã nói với một người thuộc bậc cha chú, khi người ấy cứ cố gắng nài nỉ tôi đừng thay đổi, rằng tôi giống như một con ngựa cái, bụng mang dạ chửa mà lại kéo một cái xe chở nặng những bao gạo lên dốc, càng lên cao, tôi càng đuối sức. Tôi cần phải giải cứu chính mình, hất cái xe nặng nề kia đi, tìm một cái ổ có cỏ khô êm ái và đẻ một con ngựa con.

Continue reading

HẬU QUẢ CỦA VIỆC HỦY BỎ HỢP ĐỒNG THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

TS. VÕ SỸ MẠNH – Đại học Ngoại thương Hà Nội

Đặt vấn đề

Ngày 24/11/2015, Bộ luật Dân sự đã được thông qua tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2017. So với Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 có rất nhiều điểm mới – những sửa đổi, bổ sung cơ bản và toàn diện nội dung của Bộ luật Dân sự năm 2005. Việc sửa đổi, bổ sung lần này là nhằm xây dựng Bộ luật Dân sự thực sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế – xã hội sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành.[2]

Về bố cục, Bộ luật Dân sự năm 2005 có 7 phần với 777 Điều còn Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ còn 6 phần, 689 Điều. Về nội dung, có thể nói không có nội dung nào của Bộ luật Dân sự năm 2005 không có sự chỉnh sửa, bổ sung. Một trong những điểm mới quan trọng của Bộ luật Dân sự năm 2005 so với Bộ luật Dân sự năm 2015 là quy định về hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng. Trên cơ sở hệ thống hóa pháp luật Việt Nam điều chỉnh hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng, bài viết dưới đây đề cập mang tính gợi mở một số vấn đề liên quan đến quy định mới về hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng của Bộ luật Dân sự năm 2015.

1. Điều chỉnh hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng trong Pháp luật Việt Nam

Khi hợp đồng được thiết lập hợp pháp thì có hiệu lực như pháp luật đối với các bên kể từ thời điểm giao kết, các bên phải tuân thủ hợp đồng mà không được tự ý sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng luôn tiềm ẩn những nguyên nhân chủ quan và khách quan khiến cho các nghĩa vụ hợp đồng không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng, đầy đủ như cam kết. Khi đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên trong quan hệ, pháp luật trao cho họ quyền được tuyên bố hủy bỏ hợp đồng.

Continue reading

KHÔNG ÁP DỤNG ĐIỀU 20 LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ THÌ TÁC GIẢ TRẮNG TAY

 ĐỖ KHẮC CHIẾN – Chuyên gia SHTT, Trọng tài viên VIAC

Mở đầu

Bài viết “Thực hư việc áp dụng Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ” đã khảo sát quy định của Điều 33 Luật SHTT và khẳng định rằng Điều 33 Luật SHTT không phải là cơ sở pháp luật để giải quyết vụ tranh chấp giữa Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) và một số khách sạn tại Thành phố Đà Nẵng. Việc đề cập vai trò của Điều 33 Luật SHTT trong vụ tranh chấp chỉ để rộng đường dư luận nhằm đáp lại ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước khẳng định Điều 33 Luật SHTT là cơ sở pháp luật, vì đương nhiên Điều 33 Luật SHTT không thể là cơ sở pháp luật.

Theo nguyên tắc quan hệ giữa quyền tác giả và quyền liên quan thì sự bảo hộ đối với quyền liên quan phải giữ nguyên vẹn (hoặc bảo toàn) sự bảo hộ đối với quyền tác giả và do đó không một quy định nào về quyền liên quan được giải thích hoặc áp dụng theo cách thức có thể gây tổn hại cho sự bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm.       

Tương tự như vậy, cũng để rộng đường dư luận, bài viết này đề cập vai trò của Điều 20 Luật SHTT còn thực ra Điều 20 Luật SHTT đương nhiên là cơ sở pháp luật để VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc.

Điều 20 Luật SHTT đương nhiên là cơ sở pháp luật vì lý do đơn giản sau đây:

Continue reading

THỰC HƯ VIỆC ÁP DỤNG ĐIỀU 33 LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

ĐỖ KHẮC CHIẾN – Chuyên gia SHTT, Trọng tài viên VIAC

Mở đầu

Gần đây, đã xảy ra một vụ việc thu hút sự chú ý của dư luận, thậm chí đã được đưa ra phiên chất vấn ngày 13 tháng 6 năm 2017 tại Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV. Đó là việc Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) yêu cầu các khách sạn tại Thành phố Đà Nẵng trả tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc, nhưng yêu cầu đã bị một số khách sạn phản đối. Cho đến nay, vụ việc vẫn đang trong tình trạng ‘treo’, VCPMC phải tạm dừng thu tiền để hoàn tất một số công việc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước.

VCPMC khẳng định cơ sở pháp luật để yêu cầu khách sạn trả tiền là Điều 20 Luật sở hữu trí tuệ (Luật SHTT), cụ thể là quy định về quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng tại điểm b) khoản 1 Điều 20 Luật SHTT, với mức thu bằng 25.000 đồng/năm nhân với số TV lắp đặt trong phòng ngủ khách sạn. 

Cơ quan quản lý nhà nước cũng khẳng định việc VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền có cơ sở pháp luật, đó là Điều 33 Luật SHTT.

Như vậy, hiện đang có ít nhất là hai ý kiến khác nhau về cơ sở pháp luật để VCPMC yêu cầu khách sạn trả tiền, một ý kiến khẳng định đó là Điều 20 Luật SHTT và một ý kiến khẳng định đó là Điều 33 Luật SHTT.

Sự khác biệt ý kiến về cơ sở pháp luật đặt ra một vấn đề rộng hơn vấn đề cụ thể của vụ tranh chấp, đó là giải thícháp dụng một số quy định của pháp luật, cụ thể là quy định tại Điều 20 và Điều 33 Luật SHTT.

Continue reading

%d bloggers like this: