MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ THẾ CHẤP NHÀ Ở HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Kết quả hình ảnh cho LAW ON HOUSING IN THE FUTURETHS. HUỲNH ANH – Giảng viên Đại học An Giang

Trong giao dịch bảo đảm, nhà ở hình thành trong tương lai là một dạng tài sản bảo đảm có tính chất đặc thù, đòi hỏi phải có những cơ chế pháp lý riêng biệt, cụ thể để điều chỉnh, nhằm đảm bảo an toàn cho các giao dịch dân sự, thương mại nói chung, giao dịch thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai tại các ngân hàng thương mại (NHTM) nói riêng, cũng như bảo đảm an toàn cho các thiết chế tài chính. Thời gian qua, những quy định về giao dịch thế chấp liên quan đến loại tài sản này chủ yếu dựa vào các quy định chung, nên có quá nhiều bất cập chưa giải quyết được khi áp dụng, thêm vào đó là những vấn đề mới tiếp tục phát sinh. Trong đó, vấn đề nhận diện nhà ở hình thành trong tương lai, vấn đề xác lập giao dịch và đăng ký thế chấp đang là những vấn đề đáng quan tâm.

1. Nhận diện nhà ở hình thành trong tương lai là đối tượng của hợp đồng thế chấp

Lần đầu tiên, thuật ngữ “nhà ở hình thành trong tương lai” xuất hiện trong văn bản quy phạm pháp luật như là đối tượng của giao dịch bảo đảm được nhắc đến trong Nghị định số 71/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở (Nghị định số 71/2010/NĐ-CP). Tuy nhiên, thuật ngữ này không được giải thích trong Nghị định[1].

Trước đó, ngày 29/11/2005, Quốc hội đã thông qua Luật Nhà ở, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2006. Luật không đưa ra khái niệm về nhà ở hình thành trong tương lai, do đó các giao dịch liên quan đến nhà ở hình thành trong tương lai chủ yếu dựa vào luật chung – Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành[2]. BLDS năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật này cũng không đề cập đến thuật ngữ “nhà ở hình thành trong tương lai”, thay vào đó là những quy định chung về “tài sản hình thành trong tương lai”, nhưng cũng không có mô tả cụ thể về khái niệm tài sản hình thành trong tương lai[3]. Tuy nhiên, Điều 4 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm (Nghị định số 163/2006/NĐ-CP) có quy định “…Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của bên bảo đảm”. Với quy định “tài sản đã được hình thành” nhưng chưa thuộc sở hữu của bên bảo đảm cũng được xem là tài sản hình thành trong tương lai mà không có giải thích gì thêm nên khi vận dụng vào thế chấp tài sản là nhà ở hình thành trong tương lai đã gây nhầm lẫn với một số dạng nhà ở khác[4], dường như không còn đúng nghĩa nhà ở “tương lai”. Vì thế trong quá trình áp dụng quy định chung này đối với thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai cũng đã gặp những vấn đề vướng mắc, cả về lý luận lẫn thực tiễn.

Tiếp tục đọc

Advertisements

LUẬT QUYỀN TÁC GIẢ HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ (Bản dịch trên COV.GOV.VN)

Kết quả hình ảnh cho THE COPYRIGHT LAW OF THE UNITED STATESChương 1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT QUYỀN TÁC GIẢ

101. Định nghĩa

102. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả: quy định chung

103. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả: các tác phẩm hợp tuyển và phái sinh

104. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả: quốc gia gốc

104A. Quyền tác giả đối với tác phẩm phục hồi bảo hộ quyền tác giả

105. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả: các tác phẩm thuộc sở hữu Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

106. Các quyền độc quyền đối với tác phẩm được bảo hộ

106A. Các quyền của tác giả đối với việc nêu nguồn gốc và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm

107. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: các sử dụng hợp lý

108. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: tái bản bởi các viện lưu trữ và thư viện

109. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: ảnh hưởng của việc chuyển nhượng các bản sao hoặc các bản ghi

110. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: ngoại lệ đối với một số hoạt động trình diễn và trình bày

111. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: phát sóng thứ cấp

112. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: các bản ghi thử

113. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả đối với các tác phẩm về nghệ thuật, mỹ thuật, điêu khắc

114. Phạm vi các quyền độc quyền đối với các tác phẩm âm nhạc

115. Phạm vi các quyền độc quyền đối với các tác phẩm nhạc kịch: giấy phép bắt buộc đối với việc phân phối và làm bản ghi

116. Giấy phép thoả thuận đối với các hoạt động biểu diễn công cộng thông qua hệ thống máy hát vận hành bằng tiền xu

117. Phạm vi các quyền độc quyền: sử dụng kết hợp với máy tính và hệ thống thông tin tương tự

118. Phạm vi các quyền độc quyền: vấn đề sử dụng một số tác phẩm trong phát sóng phi thương mại

119. Hạn chế các quyền độc quyền: phát sóng thứ cấp từ trạm phát trung tâm hoặc trạm chủ tới các máy thu hình cá nhân đặt tại các gia đình

120. Phạm vi các quyền độc quyền đối với các tác phẩm kiến trúc

121. Giới hạn các quyền độc quyền: tái bản cho người mù hoặc những người tàn tật khác

Điều 101: Định nghĩa

Ngoại trừ các quy định khác

, các thuật ngữ và hình thức thể hiện khác của nó được sử dụng trong Điều luật này được hiểu như sau:

Tiếp tục đọc

QUYỀN TỰ BẢO VỆ – ĐIỂM MỚI TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

Kết quả hình ảnh cho Self-Help in Civil codePGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Tự bảo vệ trong luật so sánh là hành vi ứng xử của chủ thể nhằm chấn chỉnh một thái độ ứng xử sai trái mà không dựa vào quy trình pháp lý bình thường. Trong lĩnh vực pháp luật tài sản, khái niệm này tạo điều kiện cho cá nhân giành lại tài sản hợp pháp của mình mà không cần nhờ đến thủ tục tư pháp theo quy định. Đặc biệt, chủ nợ có bảo đảm được quyền tiến hành giữ lấy tài sản đang nằm trong tay người mắc nợ miễn là việc nắm giữ được thực hiện mà không vi phạm điều kiện phá vỡ sự bình ổn. Trong luật thực định Việt Nam, tự bảo vệ được thừa nhận trong Bộ luật Dân sự và được cụ thể hoá trong lĩnh vực giao dịch bảo đảm thành quyền thu giữ tài sản.

1. Tổng quan

Tự bảo vệ được hiểu là hành vi phản ứng của chủ thể theo khả năng của bản thân chống lại hành vi của người khác có tác dụng hoặc có nguy cơ xâm hại các lợi ích của mình một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Tự bảo vệ có nghĩa là tự mình tổ chức, thực hiện các biện pháp đối phó với hành vi xâm hại mà không dựa vào công lực. Ở góc độ học thuyết pháp lý, tự bảo vệ được gọi là “self-help” và được định nghĩa là một nỗ lực nhằm chấn chỉnh một điều sai trái được nhận biết bằng hành động tự thân chứ không thông qua quy trình pháp lý bình thường[1]. Ví dụ, bị người khác tấn công, thì đánh trả; trong quan hệ tài sản, thấy người khác tự ý trồng cây, xây dựng trên đất của mình, thì tự mình chặt bỏ, phá dỡ; đồ vật của mình mà bị người ta cướp giật, thì mình tự giành lại.

Tự bảo vệ là động thái có nguồn gốc từ bản năng sinh tồn của động vật trong không gian sống thống trị bởi quy luật “mạnh được yếu thua”, là phản xạ tự nhiên khi đứng trước hiểm họa đối với bản thân.

Trong xã hội có tổ chức, tự bảo vệ cần được thực hiện như thế nào để đạt yêu cầu kép: một mặt, người tự bảo vệ đạt được mục tiêu bảo đảm sự an toàn của bản thân, sự toàn vẹn của tài sản thuộc sở hữu của mình; mặt khác, việc tự vệ không bị coi là việc tấn công nhằm xâm hại thân thể, tài sản của người khác một cách không chính đáng. Để đạt được yêu cầu đó, trước hết cần thừa nhận tự bảo vệ là một quyền của chủ thể và xây dựng một khung pháp lý cho phép nhận dạng, đồng thời tổ chức cho chủ thể thực hiện quyền này một cách có trật tự và hợp lý.

Tiếp tục đọc

THÀNH TỰU VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM TRONG BẢO VỆ VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN CON NGƯỜI

Kết quả hình ảnh cho smile children in vietnamPGS. TS. VŨ HOÀNG CÔNG – Tổng Biên tập Tạp chí Lý luận chính trị

Sự nghiệp bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là bản chất của chủ nghĩa xã hội, là quá trình liên tục, cần có sự nỗ lực thực chất. Trong thời gian tới, Đảng và Nhà nước cần xác định rõ những đối tượng và những quyền mang tính ưu tiên, cấp bách để tập trung đầu tư nguồn lực, tạo nên chuyển biến rõ rệt trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

Thành tựu to lớn trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

Thứ nhất, thành tựu về nhận thức trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

Trước hết, chúng ta nhận thức rõ quyền con người là vấn đề hoàn toàn phù hợp với bản chất của chủ nghĩa xã hội, không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản. Chúng ta cũng nhận thức rõ quyền con người được thể hiện cụ thể ở quyền công dân, song không đồng nhất với quyền công dân. Nếu quyền công dân có tính đặc thù, tùy thuộc vào trình độ phát triển trong mỗi giai đoạn lịch sử, phụ thuộc nhất định vào hệ giá trị mang tính quốc gia, dân tộc, thì quyền con người có tính phổ quát. Mỗi cá nhân cần phải được tôn trọng, được bảo vệ và ngày càng có điều kiện tốt hơn trong việc thỏa mãn các quyền về chính trị – dân sự, kinh tế – văn hóa – xã hội. Theo đó, đồng thời với việc tạo điều kiện để những người có năng lực vượt trội so với số đông có thể phát triển như mong muốn, những đối tượng bất lợi, dễ bị tổn thương cũng được chăm sóc, được tạo điều kiện để hòa nhập xã hội, khẳng định giá trị bản thân.
Mặt khác, chúng ta hiểu rõ việc tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người ở mỗi quốc gia là trách nhiệm của nhà nước có chủ quyền mà không tổ chức quốc tế, không một lực lượng bên ngoài nào có thể thay thế được. Việt Nam kiên quyết đấu tranh với những kẻ lợi dụng vấn đề quyền con người để thực hiện các hoạt động thù địch, phá hoại độc lập, chủ quyền, can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước, đồng thời tích cực hợp tác quốc tế trong thúc đẩy quyền con người.
Thứ hai, thành tựu trong xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trên mọi lĩnh vực.

Tiếp tục đọc

XỬ LÝ TỐT MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI

Hình ảnh có liên quanGS.TS. NGUYỄN XUÂN THẮNG – Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chínḥ quốc gia Hồ Chí Minh

Bảo đảm độc lập, tự chủ là nguyên tắc nhất quán trong hệ thống quan điểm hội nhập quốc tế của Đảng ta và là đường lối xuyên suốt trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới. Đổi mới tư duy về quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế góp phần đổi mới tư duy trong xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, các chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực hiện nay trước những thay đổi nhanh chóng của bối cảnh bên ngoài và tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng của đất nước. Văn kiện Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định, việc quán triệt và xử lý tốt các mối quan hệ lớn, trong đó có quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đất nước ta trong giai đoạn tới.

Quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ thực tiễn 30 năm đổi mới

Vào giữa thập niên 80 của thế kỷ XX, đất nước ta phải đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng. Cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp kéo dài đã làm triệt tiêu các động lực phát triển; đất nước bị cô lập, bị cấm vận và lệ thuộc vào viện trợ từ bên ngoài. Đời sống của nhân dân rất khó khăn, nghèo đói tăng nhanh, nền kinh tế – xã hội có thể sụp đổ bất cứ lúc nào, tư tưởng hoang mang lan rộng đặt chế độ chính trị trước thách thức to lớn.

Trước những khó khăn đó, Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có chủ trương “tham gia sự phân công lao động quốc tế”, “mở mang quan hệ kinh tế và khoa học – kỹ thuật” với bên ngoài(1). Tinh thần của Đại hội VI toát lên một tiếp cận mới rằng, độc lập, tự chủ không có nghĩa là biệt lập, “đóng cửa” với thế giới, từ đó mở đường cho tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm đầu đổi mới. Đại hội VII của Đảng (năm 1991) tiến thêm một bước với chủ trương cụ thể hơn: “Mở rộng, đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại” và theo quan điểm chỉ đạo “thu hút các nguồn lực bên ngoài để phát huy mạnh mẽ các lợi thế và nguồn lực bên trong”(2). Tuy nhiên, công cuộc đổi mới diễn ra chưa được bao lâu thì Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lâm vào khủng hoảng trầm trọng và tan rã, khiến lòng dân dao động, lo ngại về con đường đi tiếp của đất nước ta. Trong hoàn cảnh đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 ra đời, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ của Đảng ta trong sự nghiệp lãnh đạo toàn dân kiên định con đường đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đó là minh chứng hết sức sinh động và ý nghĩa về tầm quan trọng của việc giữ vững độc lập, tự chủ trong lựa chọn con đường phát triển của đất nước ta trước những biến động to lớn của thời đại.

Tiếp tục đọc

NỀN CỘNG HÒA VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở HÀN QUỐC: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐỐI VỚI CÔNG CHÚNG TRƯỚC ẢNH HƯỞNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TOÀN CẦU

Kết quả hình ảnh cho DEVELOPMENT OF ECONOMY IN KOREA GS. KIM SANGBONG – Đại học Quốc gia Chonnam, Hàn Quốc

Người dịch: THS.VŨ THỊ KIỀU PHƯƠNG

Người hiệu đính: THS. TRẦN TUẤN PHONG

Nói về nền cộng hoà và kinh tế thị trường ở Hàn Quốc hiện nay, tác giả đã đi đến khẳng định việc đề cao trách nhiệm xã hội đối với công chúng trước ảnh hưởng của kinh tế thị trường toàn cầu là hết sức cần thiết. Bởi lẽ, trước ảnh hưởng của kinh tế thị trường toàn cầu, lợi ích chung của cả cộng đồng xã hội có thể bị hạn chế và đe doạ, nếu nhà nước bị lợi ích kinh tế chi phối. Trong bối cảnh này, để duy trì một nhà nước cộng hoà như một thể chế chính trị thuộc về công chúng, trước hết cần phải làm cho các doanh nghiệp thực sự dân chủ và có khả năng điều tiết nguồn vốn cả về mặt xã hội lẫn về mặt chính trị.

Như chúng ta đều biết, người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã phân biệt rõ nhà nước với gia đình, còn gọi là thành bang gia đình, hay lĩnh vực công lĩnh vực tư. Khi đó, người ta đã hiểu rằng, công việc chính trị không giống với việc quản lý gia đình. Trong khi chính trị là sự thực hiện quyền tự do công dân, còn quản lý gia đình nhằm mưu cầu sự giàu có. Nghĩa là, đối với người Hy Lạp và người La Mã cổ đại, kinh tế thuộc về lĩnh vực tư nhân.

Song, trong thời đại ngày nay, kinh tế là lĩnh vực quan trọng nhất của nhà nước (lĩnh vực công) và chi phối cả chính trị. Nhưng, tiền bạc thì lại không hàm chứa đặc tính công  như vậy, bởi nó hoàn toàn là sở hữu (mang tính) tư nhân. Khi việc theo đuổi sự giàu có (thịnh vượng về mặt vật chất) trở thành mục đích cao nhất của một quốc gia, thì nhà nước đó hẳn sẽ dần đánh mất đặc tính công và khi đó chế độ dân chủ sẽ rơi vào tình trạng bế tắc như chúng ta có thể thấy ở Hàn Quốc gần đây.

Tiếp tục đọc

HOÀNG SA, TRƯỜNG SA CÓ BAO NHIÊU BIỂN VÀ THỀM LỤC ĐỊA?

Hình ảnh có liên quan DƯƠNG DANH HUY – Qũy nghiên cứu Biển Đông

Trong tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông, tồn tại tranh chấp đảo và tranh chấp biển. Vì Hoàng Sa, Trường Sa bị tranh chấp, câu hỏi “Hoàng Sa, Trường Sa có bao nhiêu biển?” có vai trò quan trọng cho tranh chấp biển. Mục đích chính của bài viết này không phải là trả lời câu hỏi trên mà là – bằng cách đưa ra những nguyên tắc, những cách phân loại, những bản đồ – đưa ra một số phương tiện để giúp người đọc suy nghĩ về một câu hỏi cực kỳ quan trọng cho tương lai Việt Nam mãi mãi về sau.

1. Ba loại tranh chấp biển tại Biển Đông

Tại Biển Đông, ngoài tranh chấp chủ quyền đối với đảo, còn tồn tại tranh chấp biển. Trong bài viết này, từ “biển” có thể bao gồm mặt biển, cột nước, đáy biển, lòng đất, và trong trường hợp của lãnh hải 12 hải lý thì bao gồm cả bầu trời.

Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển thì những vùng biển này có thể bao gồm lãnh hải 12 hải lý, vùng tiếp giáp từ 12 đến 24 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế tối đa là 200 hải lý, thềm lục địa mở rộng bên ngoài 200 hải lý, và có thể cả biển quốc tế.

Đại khái, có thể chia Biển Đông thành những vùng biển sau:

1. Các vùng biển thuộc các đảo trong tình trạng tranh chấp chủ quyền, bao gồm các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, bãi cạn Scarborough. Để ngắn gọn, bài viết này sẽ chỉ đề cập tới Hoàng Sa, Trường Sa. Để diễn đạt ngắn gọn, trong bài viết này, từ “đảo” và cụm từ “vùng biển thuộc đảo” sẽ được dùng để nói về các đảo bị tranh chấp, tức là các đảo thuộc Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng sẽ không bao gồm các đảo không bị tranh chấp, thí dụ như  Lý Sơn, Phú Quý, Côn Sơn, Pratas. Tiếp tục đọc

NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP

Kết quả hình ảnh cho FARMERS IN VIETNAMPGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fullbright

Bối cảnh nghiên cứu: Người nông dân và tranh chấp trong thu hồi đất đai

Công nghiệp hóa, đô thị hóa đã và sẽ diễn ra ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới với tốc độ ngày càng nhanh. Trong quá trình đó, nông dân có thể sẽ là lực lượng xã hội chịu thiệt thòi nếu phúc lợi tạo ra từ công nghiệp hóa không được san sẻ cho họ một cách công bằng. Khi lợi ích giữa Nhà nước, các chủ đầu tư phát triển quỹ đất và người nông dân bị thu hồi đất không được phân bổ hài hòa, có nguy cơ xuất hiện nhiều tranh chấp liên quan đến thu hồi đất đai. Bài viết dưới đây bàn về các phương thức giải quyết tranh chấp đất đai khi nông dân bị thu hồi đất. Những tranh chấp này cần được nhận diện và giải quyết một cách thỏa đáng từ góc độ chính sách và pháp luật.

Để công nghiệp hóa và đô thị hóa, tất yếu cần thu hồi đất nông thôn và đất nông nghiệp để chuyển thành đất công nghiệp, đất đô thị, với hy vọng hiệu quả sử dụng đất sẽ nâng cao, đất sẽ có giá hơn. Về kinh tế, theo một đánh giá của Ngân hàng thế giới và Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, khoảng một nửa tới 2/3 của cải của các dân tộc được gắn liền với đất đai [2]. Muốn trở thành quốc gia công nghiệp, hàng triệu nông dân phải mất nghề để chuyển sang khu vực công nghiệp hoặc dịch vụ, 60% dân số Việt Nam sống bằng nghề nông trong khu vực nông thôn chắc chắn sẽ tiếp tục giảm xuống 10-15%, hàng chục triệu nông dân sẽ tiếp tục phải đối mặt với những thách thức to lớn về sinh kế trong các thập niên tới đây. Tiếp tục đọc

CẢI CÁCH THỂ CHẾ: TỪ TẦM NHÌN ĐẾN THỰC TIỄN

Kết quả hình ảnh cho economic market researchNHÓM TÁC GIẢ: Vũ Thành Tự Anh (anhvt@fetp.edu.vn), Laura Chirot (chirot@mit.edu), David Dapice (david_dapice@harvard.edu), Huỳnh Thế Du (duht@fetp.edu.vn), Phạm Duy Nghĩa (nghiapd@fetp.vnn.vn), Dwight Perkins (dwight_perkins@harvard.edu), và Nguyễn Xuân Thành (thanhnx@fetp.edu.vn)

Đây là bài nghiên cứu của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright nhằm cung cấp bối cảnh cho hoạt động thảo luận chính sách diễn ra trong Chương trình Lãnh đạo Cao cấp Việt Nam (VELP) lần thứ năm, năm 2015 (Tại Trường Harvard Kennedy, 13-17/4/2015). Bài nghiên cứu trình bày những biện pháp cải cách thể chế một cách có hệ thống, trong đó tập trung vào nhánh lập pháp và tư pháp, để đưa Việt Nam đi theo mô hình phát triển bao trùm – là mô hình khả dĩ nhất để Đảng và Nhà nước đạt được các mục tiêu phát triển, nhờ đó khôi phục tính chính đáng của mình, đảm bảo ổn định xã hội và giữ vững chủ quyền quốc gia.

Phần 1. Thời khắc thực hiện cải cách hướng tới các thể chế bao trùm

1. Phát triển dưới tiềm năng và hệ lụy của nó Trong đúng ba thập kỷ kể từ Đổi mới từ 1986 đến 2015, nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng với tốc độ trung bình 6,5%/năm.1 Tốc độ tăng trƣởng này quả là rất ấn tượng bởi kể từ Đại chiến Thế giới II chỉ có 13 quốc gia duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân trên 7% liên tục trong 30 năm. 2 Tuy nhiên, nếu so với các nền kinh tế được xem là những con rồng, con hổ trong khu vực, tốc độ tăng trưởng này còn rất khiêm tốn. Trong ba thập niên trước khủng hoảng tài chính châu Á, Malaysia và Indonesia tăng trưởng trung bình 7,3%, Thái Lan 7,7%, và Hàn Quốc 9,3%; còn sau ba thập niên kể từ chính sách “cải cách khai phóng”, Trung Quốc có mức tăng trưởng trung bình tới 10%. Như vậy, mặc dù Việt Nam tăng trưởng nhanh nhưng vẫn thua kém nhiều nền kinh tế trong khu vực. Tiếp tục đọc

NỢ XẤU AI TRẢ?

Kết quả hình ảnh cho BAD DEBTLS. NGUYỄN NGỌC BÍCH – Công ty Luật Hợp danh DC

Bản chất của nợ

Trong một quốc gia nợ được chia thành ba loại: nợ của chính phủ, của doanh nghiệp và của dân cư. Loại nợ sau cùng ở ta không có vì không có một định chế phổ biến cho việc mua nhà trả góp. Ở đây xin bàn đến nợ của các doanh nghiệp tức là của các ngân hàng thương mại. Thực sự ngân hàng không có nợ, nhưng vì họ cho vay mà không đòi lại được nên … dính nợ.

Về bản chất, theo các nhà kinh tế, nợ không phải là một điều gì xấu. Nó là một phương tiện có ích vì làm cho tiền đi đến chỗ nào cần nó nhất; từ chủ nợ có thừa sang con nợ cần tiền. Một thị trường nợ, ở tầm mức quốc gia hay quốc tế, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế; vì nó giúp cho nhiều con nợ ngày càng vay được những món nợ lớn với lãi suất ngày càng giảm. Theo báo The Economist, về mặt lịch sử có lẽ nợ là một định chế tài chính còn lâu đời hơn cả tiền bạc. Các nhà khảo cổ đã đào thấy các phiến đất sét của người ở Babylon ghi các món nợ phải trả từ 3000 năm trước Công nguyên. Dù được coi là cao cả như thế nhưng nợ vẫn không được kính trọng. Ở Đức, danh từ nợ (schuld) cũng có nghĩa là tội lỗi. Tại đó, những người đi vay được coi là phung phí và chủ nợ lúc đòi bị coi là người hám lợi và nhẫn tâm. Tâm lý ấy tồn tại là vì nợ là một cái gì không được tha thứ, phải được trả dầy đủ, đúng thời hạn, dù có chuyện gì xẩy ra nữa.

Nhìn vào bản chất của nợ như trên, ta thấy tựa bài ngô nghê. Ai nợ thì người ấy trả chứ còn gì nữa. Vâng. Điều ấy giống như lời tuyên bố dõng dạc của một vị chủ tịch tập đoàn lúc đương thời! Nhưng nếu người ấy không trả được thì sao? Thưa nó biến thành nợ xấu loại 5 sau khi quá hạn trả nợ 365 ngày? Nợ xấu loại 5 thì ai trả? Thưa nó được bán cho người khác!

Cơ chế mua bán nợ xấu

Bình thường cơ chế này có ba người chính: người bán nợ, tức là các ngân hàng thương mại (NBN), người mua nợ thứ nhất (NM1) và những người mua nợ thứ hai (NM2). Giả sử NBN có một món nợ là 100$; khi cho vay người ấy đã đòi một tài sản thế chấp được định giá là 130$; thí dụ là một villa cao cấp. Nay người đi vay không trả nợ và villa bán không có ai mua; vậy NBN đang ôm một đống gạch và không có tiền mặt để tiếp tục cho vay. Nay trên thị trường tài chính có NM1. Người này mua món nợ của NBN. Giá là 70$. NBN nhận được số tiền kia và họ kinh doanh tiếp. NM1 bây giờ có một villa và phải tìm cách bán đi, để lấy vốn và lãi về. Họ sẽ bán cho NM2. Tiếp theo, người NM2 bán cho NM2 khác. Những người này có nhiều. Họ mua bán lẫn cho nhau cho đến khi có người thực sự mua villa để ở. Các giao dịch ấy diễn ra được là vì nền kinh tế của một địa phương thay đổi theo chu kỳ: suy thoái – phục hồi – hưng thịnh. Khi mỗi chu kỳ xẩy ra có người mua vào, kẻ bán ra tùy theo vận hội và sự tiên đoán tình hình kinh tế của mỗi người. Những NM2 thường là những người có nhiều tiền và khi villa đã đến tay họ rồi thì nó có thể qua tay nhiều NM2 khác; có người sẽ được lãi; có người bị lỗ, tùy khả năng tiên đoán của họ. Người mua nhà để ở sẽ là người cuối cùng; họ không bán nữa. Vào lúc ấy, villa (nợ xấu) có thể không còn có giá 130$ nữa, mà có thể cao hơn, hay thấp hơn. Người được lời lãi hay chịu lỗ thực sự là người mua nhà để ở. Vậy họ chính là người ôm món nợ xấu. Tuy nhiên vì tất cả những người MN2 và người mua để ở chấp nhận lý lẽ thuận mua vừa bán nên không ai thấy thiệt hại vì cái villa kia. Ở xứ người là như thế, ở ta nó khác. Tiếp tục đọc

%d bloggers like this: